Theo IMF, năm 2021, tiết kiệm quốc gia tương đương 30,7% GDP, thấp hơn mức đầu tư 32,9%. Nhưng từ năm 2022, cán cân này đảo chiều. Năm 2023, tiết kiệm lên tới 38% GDP, trong khi đầu tư chỉ 31,6%; năm 2024 tương ứng là 37,2% và 30,6%. Đến năm 2025, tiết kiệm vẫn ở mức 34,9% GDP, cao hơn đầu tư 30,9%.

Tính bình quân cả giai đoạn 2021-2025, Việt Nam tiết kiệm khoảng 34,7% GDP mỗi năm, trong khi đầu tư khoảng 31,7% GDP.

Cán cân đối ngoại cũng cho thấy nguồn lực đi vào Việt Nam khá lớn. Việt Nam xuất siêu hàng hóa liên tục trong cả 5 năm, tổng thặng dư gần 90 tỷ USD. Cùng thời gian đó, chuyển giao tư nhân ròng từ nước ngoài, trong đó kiều hối là một thành phần quan trọng, đạt hơn 51 tỷ USD, theo IMF.

Thế nhưng doanh nghiệp vẫn thiếu vốn, ngân hàng vẫn ráo riết huy động và lãi suất khó giảm.

Vậy tiền đang nằm ở đâu?

Khi tách nền kinh tế thành khu vực FDI và khu vực trong nước, câu trả lời dần rõ hơn.

Techcombank (21).jpg
Khu vực trong nước đầu tư nhiều hơn số tiền tự tích lũy được, trong khi thị trường vốn chưa đủ lớn, nên phần lớn nhu cầu cuối cùng vẫn dồn về ngân hàng. Ảnh: Nam Khánh

Nội thiếu, ngoại dư

Theo TS Lý Đại Hùng, Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới, từ đầu năm 2021 đến tháng 4/2026, khu vực FDI gần như luôn tiết kiệm nhiều hơn đầu tư, với phần dư phổ biến khoảng 2-5% GDP, có thời điểm gần 6%.

Khu vực trong nước đi theo chiều ngược lại. Suốt hơn năm năm, đầu tư luôn lớn hơn số tiết kiệm tạo ra, mức thiếu phổ biến khoảng 2-4% GDP và có lúc lên quanh 5% vào cuối năm 2025, đầu năm 2026. Đến tháng 4/2026, phần dư của FDI đã giảm về gần 0, trong khi khu vực trong nước vẫn thiếu khoảng 5% GDP. Các mức này được đọc xấp xỉ từ biểu đồ của TS Lý Đại Hùng, nhưng sự khác biệt giữa hai khu vực khá rõ.

Cơ cấu xuất khẩu cho thấy rõ hơn sự lệch nhau ấy. Năm 1995, doanh nghiệp trong nước còn chiếm 73% giá trị xuất khẩu, FDI chỉ chiếm 27%. Ba thập niên sau, tỷ lệ gần như đảo ngược: FDI chiếm khoảng 80%, doanh nghiệp trong nước chỉ còn 20%, theo TS Phạm Anh Tuấn, Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới.

Cán cân thương mại cũng chia thành hai nửa rất khác nhau. Riêng năm 2025, Việt Nam xuất siêu khoảng 20 tỷ USD, nhưng khu vực FDI xuất siêu tới 49,5 tỷ USD, còn khu vực trong nước nhập siêu 29,4 tỷ USD.

Bức tranh khá rõ: cả nền kinh tế dư tiết kiệm nhưng khu vực trong nước lại thiếu; Việt Nam xuất siêu nhưng doanh nghiệp trong nước lại nhập siêu. Phần dư và phần thiếu nằm ở hai khu vực khác nhau.

Một phần thu nhập tạo ra tại Việt Nam sau đó cũng được chuyển ra nước ngoài. Theo phân tích của TS Bùi Trinh từ hệ thống tài khoản quốc gia, chi trả sở hữu ra nước ngoài năm 2021 khoảng 17 tỷ USD; giai đoạn 2022-2025, ông ước tính khoảng 18-20 tỷ USD mỗi năm, thậm chí cao hơn trong một số năm, chủ yếu là lợi nhuận, cổ tức và lãi vay.

So với năm 2010, quy mô khoản chi này đã tăng khoảng 5,1 lần, nhanh hơn mức tăng 3,5 lần của GDP theo giá hiện hành. Một phần thu nhập do khu vực FDI tạo ra, vì thế, không ở lại Việt Nam để tái đầu tư mà được chuyển ra nước ngoài.

Sức ép dồn lên ngân hàng

Khu vực trong nước đầu tư nhiều hơn số tiền tự tích lũy được, trong khi thị trường vốn chưa đủ lớn, nên phần lớn nhu cầu cuối cùng vẫn dồn về ngân hàng.

Theo TS Lý Đại Hùng, tỷ lệ tín dụng so với huy động vốn (LDR) từng chỉ quanh vùng 80% trong giai đoạn 2013-2021, nhưng sau đó tăng nhanh và tiến gần 110% vào quý I/2026.

Số liệu mới nhất của Ngân hàng Nhà nước cũng cho thấy dư nợ tín dụng đã vượt 20,15 triệu tỷ đồng, trong khi vốn huy động khoảng 18,15 triệu tỷ đồng. Khoảng cách giữa hai con số đã lên tới 2 triệu tỷ đồng.

Vì thế mới có chuyện tiền gửi trong ngân hàng rất lớn nhưng các nhà băng vẫn phải ráo riết huy động: tín dụng đang chạy nhanh hơn tiền gửi. Nguồn vốn căng thì lãi suất khó rẻ, trong khi một nhà máy, trung tâm nghiên cứu hay dự án công nghệ lại cần nhiều năm mới thu hồi vốn.

Nếu Việt Nam muốn nâng đầu tư lên gần 40% GDP trong nhiều năm, không thể tiếp tục đặt phần lớn gánh nặng vốn lên hệ thống ngân hàng.

Vốn dài hạn tìm ở đâu?

Nếu muốn duy trì đầu tư ở mức 40% GDP, Việt Nam phải tìm được những nguồn vốn có thể đi cùng doanh nghiệp năm năm, mười năm, thậm chí lâu hơn.

Nhưng thị trường vốn hiện chưa làm được vai trò ấy. Theo World Bank, giai đoạn 2019-2023, mỗi năm Việt Nam huy động bình quân khoảng 53,5 tỷ USD qua hệ thống ngân hàng, trong khi qua thị trường cổ phiếu chỉ khoảng 2,9 tỷ USD.

Bởi vậy, thước đo của thị trường chứng khoán không nên chỉ là VN-Index lên bao nhiêu hay vốn hóa lớn thế nào. Một con số thiết thực hơn là mỗi năm doanh nghiệp gọi được bao nhiêu vốn mới từ thị trường. Nâng hạng cũng nên được nhìn từ góc độ đó: sau nâng hạng, có thêm bao nhiêu vốn quốc tế thực sự đi vào doanh nghiệp Việt Nam và ở lại bao lâu?

Trái phiếu doanh nghiệp cũng chưa chia sẻ được bao nhiêu gánh nặng với ngân hàng. Quy mô thị trường từng đạt khoảng 15% GDP năm 2021, còn 14% năm 2022, sau đó giảm xuống 9,9% năm 2023. Năm 2024 phục hồi lên khoảng 10,6%, nhưng đến cuối năm 2025, dư nợ trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ vẫn chỉ khoảng 1,15 triệu tỷ đồng, tương đương 9% GDP. Sau 5 năm, một kênh vốn trung, dài hạn quan trọng không những chưa lớn lên so với nền kinh tế mà còn nhỏ hơn trước.

Trong khi đó, cuối năm 2025, dư nợ trái phiếu Chính phủ đã lên gần 2,77 triệu tỷ đồng, tương đương 21,6% GDP, lớn hơn hai lần dư nợ trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ.

Nhà nước vay để đầu tư hạ tầng và phát triển kinh tế là cần thiết. Nhưng sự chênh lệch này cũng cho thấy thị trường không phải không huy động được vốn dài hạn; khả năng tiếp cận nguồn vốn ấy giữa Nhà nước và doanh nghiệp rất khác nhau.

Một điều còn thiếu là những người sẵn sàng bỏ tiền trong mười năm, hai mươi năm. Việt Nam cần các quỹ hưu trí, bảo hiểm, quỹ đầu tư đủ lớn để trở thành những nhà đầu tư dài hạn. Riêng Quỹ BHXH Việt Nam đang quản lý lượng tài sản tương đương hơn 10% GDP, theo World Bank. Quy mô ấy cho thấy Việt Nam không phải không có tiền dài hạn; điều cần tính là những cơ chế và nguyên tắc đầu tư đủ an toàn để nguồn tiền này tham gia thị trường vốn.

Muốn đầu tư gần 40% GDP trong nhiều năm, nhà máy cần vốn mười năm, hai mươi năm không thể cứ sang ngân hàng vay bằng tiền gửi ngắn hạn của người dân.

Xét trên toàn nền kinh tế, Việt Nam không thiếu tiết kiệm. Nhưng với doanh nghiệp trong nước, thiếu vốn là chuyện có thật. Phần dư nhiều năm chủ yếu nằm ở khu vực FDI, trong khi khu vực trong nước đầu tư vượt số tiền tự tích lũy được; một phần thu nhập của FDI lại chuyển ra nước ngoài. Thành ra, tiền vẫn có mà người cần tiền vẫn khát.