Khó ở chỗ những mục tiêu ấy không phải lúc nào cũng thuận chiều.

Tại cuộc làm việc với Ngân hàng Nhà nước và hệ thống các tổ chức tín dụng ngày 13/8 vừa qua, Thủ tướng Lê Minh Hưng yêu cầu nhà điều hành thường xuyên lượng hóa “điểm cân bằng” giữa kiểm soát lạm phát và hỗ trợ tăng trưởng, từ đó điều chỉnh lãi suất, tỷ giá, cung tiền, thanh khoản và tín dụng đúng thời điểm, đúng liều lượng.

Nỗ lực của nhà điều hành

Một lựa chọn đáng chú ý trong bảy tháng đầu năm là Ngân hàng Nhà nước không hạ lãi suất điều hành để kích thích tăng trưởng.

Nhưng chính sách tiền tệ thì khá linh hoạt. Khi hệ thống ngân hàng cần thêm tiền, Ngân hàng Nhà nước bơm vốn qua thị trường mở, tăng lượng chào mua và kéo kỳ hạn lên tới 91 ngày; hoán đổi ngoại tệ cũng được sử dụng để bổ sung nguồn tiền.

Nhà điều hành đang tìm cách tăng thanh khoản, tạo điều kiện giảm lãi suất cho vay mà chưa phải hạ lãi suất điều hành.

Tín dụng cũng được mở thêm dư địa. Đến ngày 31/7, dư nợ đã lên 20,26 triệu tỷ đồng, tăng 8,98% so với cuối năm 2025.

Một số khoản vay được loại khỏi chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng; tỷ lệ vốn ngắn hạn được sử dụng cho vay trung và dài hạn được nâng từ 30% lên 40%; tỷ lệ tiền gửi Kho bạc Nhà nước được tính vào tỷ lệ dư nợ trên tổng tiền gửi tăng từ 20% lên 50%.

Nhu cầu vốn của nền kinh tế là rất lớn. Chỉ khoảng 35 dự án lớn, trọng điểm đã có nhu cầu vay khoảng 1,7 triệu tỷ đồng.

Thủ tướng cũng yêu cầu không coi mục tiêu tăng trưởng tín dụng năm 2026 là “trần cứng” trong mọi thời điểm, nhưng vốn phải đến đúng lĩnh vực, đúng thời điểm, đúng đối tượng, đúng mục đích và với chi phí hợp lý.

Trong lúc mở thêm khả năng cung ứng vốn cho nền kinh tế, tỷ giá vẫn phải giữ ổn định; dự trữ ngoại hối tăng nhẹ so với cùng kỳ và duy trì mức tương đương cuối năm 2025.

Tín dụng tăng bao nhiêu có thể nhìn thấy khá nhanh. Nhưng dòng vốn ấy đi đâu, và cuối cùng tạo ra bao nhiêu tăng trưởng, mới là điều cần theo dõi.

Những giới hạn cần tính đến

Nhưng mở thêm tín dụng cũng gặp bài toán: Huy động đang tăng chậm hơn tín dụng, trong khi nguồn tiền chủ yếu là ngắn hạn.

Tiền gửi từ một năm trở lên ước chỉ chiếm khoảng 20% tổng tiền gửi, còn cho vay trung và dài hạn chiếm khoảng 47% tổng dư nợ.

Trong khi đó, việc nâng tỷ lệ vốn ngắn hạn được sử dụng cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40% giúp có thêm vốn trước mắt, nhưng cũng làm tăng rủi ro kỳ hạn.

Vietcombank (8).jpg
Một lựa chọn đáng chú ý trong bảy tháng đầu năm là Ngân hàng Nhà nước không hạ lãi suất điều hành để kích thích tăng trưởng. Ảnh: Nam Khánh

Tín dụng cần tăng, doanh nghiệp cần vay rẻ hơn, nhưng ngân hàng vẫn phải huy động đủ tiền trong khi cả lãi suất huy động và cho vay đều được yêu cầu giảm.

Khi tín dụng tiếp tục mở rộng, tiền đi đâu cũng là vấn đề. Các nguồn chính thức cho biết, tín dụng bất động sản đang tăng nhanh. Vì vậy, yêu cầu “quy mô phải đi đôi với chất lượng; tăng trưởng tín dụng phải đi đôi với kiểm soát rủi ro” càng đáng lưu ý.

Một giới hạn khác là lạm phát và tỷ giá. CPI bình quân bảy tháng đã tăng 4,39%, khá sát mục tiêu khoảng 4,5% của cả năm.

Trong khi đó, ở bên ngoài, Fed vẫn chưa hạ lãi suất trong khi lạm phát Mỹ chưa hạ nhiệt như kỳ vọng.

Dư địa giảm mạnh lãi suất trong nước vì thế càng phải tính đến sức ép lên tỷ giá và dòng vốn.

Cần thêm các kênh vốn khác

Chính vì vậy, Quyết định 1413/QĐ-TTg ngày 27/7/2026 đặt mục tiêu xây dựng thị trường tài chính có “cấu trúc cân đối, hợp lý”, trong đó thị trường vốn phải làm tốt hơn vai trò cung ứng vốn trung và dài hạn cho nền kinh tế.

Những hướng đi đã khá rõ: mở rộng huy động vốn qua cổ phiếu, trái phiếu ra công chúng và phát triển các nhà đầu tư dài hạn như quỹ đầu tư, quỹ hưu trí, doanh nghiệp bảo hiểm.

Khi những kênh này lớn lên, một phần nhu cầu vốn dài hạn sẽ không còn phải dồn về ngân hàng.

Nếu mục tiêu tăng trưởng hai con số phải duy trì trong nhiều năm, nhu cầu vốn sẽ còn lớn hơn. Nhưng càng cần nhiều vốn, càng không thể dồn phần lớn gánh nặng ấy lên chính sách tiền tệ.

“Điểm cân bằng” có lẽ nằm chính ở cấu trúc: làm sao có đủ vốn, với lãi suất hợp lý cho tăng trưởng, mà không phải trả giá bằng lạm phát, tỷ giá hay sự an toàn của hệ thống ngân hàng.