Mục tiêu cao mang tính dẫn dắt

Thưa ông, Đại hội XIV sẽ bàn và thông qua dự thảo Báo cáo chính trị, đặt nền tảng phát triển cho 5 năm tới. Ông đánh giá như thế nào về mục tiêu tăng trưởng hai con số được đưa ra trong Báo cáo chính trị?

TS Trần Đình Thiên - thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách của Thủ tướng: Điều đáng lưu ý là lần này, mục tiêu tăng trưởng hai con số không chỉ được đặt cho một nhiệm kỳ 5 năm, mà gắn với một tầm nhìn dài, kéo tới tận năm 2045.

Theo tôi, mục tiêu cao ở đây mang tính định hướng, dẫn dắt, không chỉ là con số kỹ thuật.

Điểm khác căn bản của nền kinh tế so với 40 năm trước nằm ở cấu trúc và chất lượng. Giờ đây, chúng ta không còn “đặt cược” vào mô hình công nghiệp hóa kiểu cũ – không phải cơ khí hóa dựa nặng vào gia công, lắp ráp, vào tài nguyên than, dầu hay lao động giá rẻ.

Tran Dinh Thien.jpeg
TS Trần Đình Thiên

Mục tiêu hiện nay – và cũng là nền tảng phát triển - là một nền kinh tế đẳng cấp cao, dựa trên công nghệ, tri thức và đổi mới sáng tạo. Tăng trưởng hai con số lần này không đơn thuần là một mục tiêu về lượng, mà quan trọng hơn là mục tiêu về chất. Hai mục tiêu này gắn chặt với nhau.

Bốn mươi năm trước, chúng ta chưa có khái niệm kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tri thức. Giờ đây, khi những định hướng và động lực mới này trở thành trụ cột, thì cách vận hành nền kinh tế buộc phải khác hoàn toàn. Nếu vẫn giữ tư duy cũ, chỉ “chỉnh sửa”, “nâng cấp” hay “cơi nới” mô hình cũ, thì không thể đạt được những mục tiêu mới.

Vì thế, vấn đề đặt ra để đạt được mục tiêu tăng trưởng hai con số là chúng ta có dám thay đổi cách làm không. Thực chất, đây là một bài kiểm tra rất lớn về tư duy, về tầm nhìn quản trị phát triển quốc gia, chứ không chỉ là bài toán GDP. Đó chính là logic quan trọng nhất.

Theo ông, động lực của mô hình phát triển mới nằm ở đâu?

Trước hết, phải nói rất rõ về sự thay đổi trong quan niệm lực lượng và động lực tăng trưởng.

Trước đây, chúng ta nhìn các thành phần kinh tế chủ yếu như “nguồn lực” – thứ có thể huy động và phân bổ. Nhưng động lực là thứ làm cho nền kinh tế chuyển động, tạo ra sức bật và đổi mới. Nếu chỉ có nguồn lực mà không có động lực, nền kinh tế sẽ tiến rất chậm, cơ bản đứng yên.

Lực lượng quan trọng nhất của nền kinh tế là ở đâu? Trước đây, khu vực tư nhân bị xem là vai phụ, thậm chí bị kỳ thị. Còn bây giờ, tư nhân được đặt vào vị trí trung tâm của động lực tăng trưởng. Đây là sự thay đổi rất căn bản.

Động lực tăng trưởng không thể tiếp tục dựa vào khu vực hành chính hay khu vực nhà nước theo cách hiểu cũ – vốn ít khi khẳng định đầy đủ tính hiệu quả và năng lực cạnh tranh. Chính khu vực tư nhân, với nền tảng là cạnh tranh thị trường, là lực lượng luôn chứng tỏ được thế mạnh đó.

Nhìn lại năm 1986 sẽ thấy rất rõ. Chỉ cần một tín hiệu “mở”, khu vực tư nhân, dù lúc đó còn yếu, đã lập tức trỗi dậy, đưa hàng hóa ra thị trường, đời sống kinh tế thay đổi rất nhanh. Đến hôm nay, chúng ta không chỉ thừa nhận tư nhân nữa, mà khẳng định họ là lực lượng chủ công, dẫn dắt. Đó là sự “xoay trục” tư duy phát triển, chứa đựng khả năng “xoay chuyển tình thế”.

Bên cạnh khu vực tư nhân, mô hình công nghiệp hóa cũng đang được nói tới như một điểm khác biệt lớn?

Đúng vậy. Trước đây, công nghiệp hóa chủ yếu dựa vào công nghệ thấp, cơ khí truyền thống, gia công – lắp ráp. Ngay cả khi thu hút được đầu tư nước ngoài, lợi thế chủ yếu vẫn là lao động rẻ, đồng nghĩa với năng suất thấp.

Bây giờ, mô hình đó đã thay đổi căn bản. Chúng ta tuyên bố rất rõ, đặc biệt trong Nghị quyết 57, rằng hướng đi là công nghệ cao, kinh tế số, kinh tế dựa trên tri thức. Những khái niệm được nhắc đến nhiều nhất hiện nay là đổi mới sáng tạo và trí tuệ nhân tạo.

Động lực phát triển không còn là xăng dầu, máy móc hay dây chuyền gia công đơn thuần, mà là công nghệ cao, tri thức và năng lực sáng tạo. Từ nay trở đi, doanh nghiệp được kỳ vọng phải là doanh nghiệp công nghệ, doanh nghiệp đổi mới sáng tạo, doanh nghiệp dựa trên tri thức và tài chính hiện đại.

Dai hoi.jpg
Mục tiêu tăng trưởng hai con số không chỉ được đặt cho một nhiệm kỳ 5 năm, mà gắn với tầm nhìn dài hạn tới năm 2045

Cách giải quyết nút thắt hạ tầng với những bước chuyển nhanh khó hình dung được trước đây cũng là một động lực cho phát triển, thưa ông?

Trước đây, chúng ta nói “hạ tầng đi trước một bước”, nhưng trên thực tế hạ tầng thường đi sau, làm manh mún, chỗ nào tắc thì vá, chỗ nào bí thì gỡ. Hạ tầng kết nối, đặc biệt là liên vùng, rất yếu.

Những năm gần đây cho thấy một cách tiếp cận hoàn toàn khác. Hạ tầng được nhìn như một hệ thống đồng bộ, có đẳng cấp, kết nối toàn bộ nền kinh tế. Cao tốc không còn làm nhỏ giọt, mà triển khai đồng thời trên nhiều trục lớn, nối các vùng kinh tế trọng điểm.

Không chỉ đường bộ, mà cả đường sắt đô thị, sân bay, cảng biển, năng lượng cũng được đặt ở một tầm khác. Hướng đi là năng lượng sạch, năng lượng tái tạo. Hạ tầng công nghiệp cũng không còn hiểu theo cách cũ, mà gắn với khu công nghệ cao, khu thương mại tự do, đô thị hiện đại.

Quan trọng hơn, cách làm đúng tạo ra niềm tin. Khi thị trường tin, doanh nghiệp tin, thì dòng vốn xã hội sẽ chảy mạnh hơn rất nhiều.

Khởi đầu cho sự thay đổi này, theo tôi, là sân bay Vân Đồn. Dự án đó đã phá vỡ “vòng kim cô” về tư tưởng và cách làm, chứng minh rằng hệ thống hạ tầng quốc gia đẳng cấp hoàn toàn có thể làm được bằng việc kết hợp nguồn lực “công” với nguồn lực ngoài nhà nước.

Còn hội nhập quốc tế - một động lực rất lớn cho phát triển thì sao, thưa ông?

Nền kinh tế mở cửa trước đây dựa mạnh vào thương mại và đầu tư nước ngoài, nhưng gắn với mô hình tăng trưởng cũ. Mở cửa nhanh, mở cửa mạnh, trong điều kiện nội lực còn yếu dễ dẫn tới lệ thuộc và hạn chế khả năng nâng đẳng cấp nền kinh tế, dựa chủ yếu vào “nội lực”.

Bây giờ, hội nhập được đặt ở tầm cao. Việt Nam chủ động lựa chọn nhà đầu tư, ưu tiên công nghệ cao, mời gọi các tập đoàn công nghệ vào đầu tư, xây dựng và phát triển hệ sinh thái. Hội nhập không chỉ là mở cửa, mà là tham gia chuỗi giá trị toàn cầu ở vị trí cao hơn.

Nhìn tổng thể, nền kinh tế Việt Nam hiện nay đang vận hành với hai trụ cột song song: một là nỗ lực phát triển mạnh khu vực nội địa, vận hành đầy đủ cơ chế kinh tế thị trường bên trong; hai là mở cửa hội nhập quốc tế ở tầm cao, gắn với công nghệ, chuỗi giá trị và tiêu chuẩn toàn cầu.

Chống lãng phí - Động lực tăng trưởng

Nhìn về năm đầu của chu kỳ mới, theo ông, các địa phương nên đặt mục tiêu tăng trưởng như thế nào để vừa giữ được mục tiêu tăng trưởng 10%, vừa tránh tâm lý chạy theo chỉ tiêu?

Năm đầu tiên của một nhiệm kỳ mới, đồng thời là năm mở đầu cho một chu kỳ phát triển mới, bao giờ cũng là năm nhiều khó khăn, đặc biệt là trong bối cảnh quốc tế hiện nay.

Khanh Hoa (13).JPG
Mọi địa phương hiện này đều đặt mục tiêu tăng trưởng hai con số cho năm 2026. Đây là cam kết hành động, là trách nhiệm quốc gia của địa phương. Ảnh: Hoàng Hà

Năm 2025, tăng trưởng bình quân cả nước đạt hơn 8%, nhưng có địa phương chỉ hơn 6%, có nơi lại vượt 10%. Điều đó cho thấy các địa phương không đứng trên cùng một vạch xuất phát.

Vì vậy, không thể kỳ vọng mọi địa phương đều đạt tăng trưởng cao giống nhau ngay trong năm đầu chu kỳ. Điều quan trọng hơn là mỗi địa phương phải xác định đúng nền tảng xuất phát cụ thể của địa phương, phải định hình thật rõ, thật sát tư duy phát triển, có giải pháp phát huy tốt nhất vai trò của Nhà nước, đặc biệt của chính quyền địa phương mình, đến cách sử dụng đầu tư công để dẫn dắt và kích hoạt khu vực tư nhân tại chỗ, có thực lực rất khác nhau. Nếu nền tảng đúng, chu kỳ tăng trưởng mới sẽ có cơ sở xuất để bảo đảm đạt mục tiêu tăng trưởng cao bền vững cho cả nhiệm kỳ.

Cần có cách nhìn linh hoạt về mục tiêu tăng trưởng. Mọi địa phương hiện này đều đặt mục tiêu tăng trưởng từ hai con số cho năm 2026. Đấy là cam kết hành động, là quyết tâm, trách nhiệm quốc gia của địa phương. Căn cứ vào điều kiện thực thi cụ thể, một cách khách quan, tôi cho rằng tự thân, không phải địa phương nào cũng chắc chắn đạt tăng trưởng từ 10% trở lên ngay trong năm nay.

Nhưng nói như vậy không phải để phủ nhận tính cam kết đạt mục tiêu. Nó chỉ ra hai điều kiện bảo đảm tuyệt đối phải tính đến. Một là Trung ương cần thực hiện sớm việc “trao quyền” để các cấp thực thi có đủ không gian “tự quyết, tự làm, tự chịu trách nhiệm”. Khi đó, trao quyền dựa vào lòng tin về năng lực chủ động sáng tạo của các chủ thể hành động. Hai là, một số địa phương khó khăn về điều kiện tăng trưởng cần được sự hỗ trợ tích cực cụ thể từ Trung ương - về nguồn lực, và đặc biệt về cơ chế, chính sách.

Nhìn trung hạn, sẽ có một số địa phương cần 1–2 năm đầu tập trung xây dựng nền tảng về hạ tầng, thể chế và tài chính, trên cơ sở đó, tạo bứt phá mạnh ở các năm sau. Cách tiếp cận này không phải là hạ thấp quyết tâm, hạ thấp mục tiêu cam kết. Đó đích thực là cách tiếp cận biện chứng, theo logic phát triển dài hạn, phù hợp với những điều kiện xuất phát khác nhau.

Trên thực tế, những tỉnh có quy mô kinh tế nhỏ thường dễ tăng trưởng nhanh hơn; ngược lại, các trung tâm kinh tế lớn đang trong quá trình tái cơ cấu có thể tăng chậm hơn tại điểm xuất phát. Theo logic này, Hà Nội, TP.HCM,… nếu giải quyết được sớm các điểm nghẽn hạ tầng và giao thông đô thị, sức bật trong những năm sau sẽ rất lớn. Nhưng rõ ràng các đầu tàu sẽ cần thời gian và nguồn lực nhiều hơn.

Tóm lại, khi thiết kế mục tiêu tăng trưởng, các địa phương không nên chạy theo con số bằng mệnh lệnh hành chính. Nguồn lực cũng giống như thức ăn với cơ thể con người: phải ăn đủ, ăn đúng lúc thì mới tiêu hóa tốt. Không phải cứ bơm nhiều vốn là tăng trưởng sẽ cao và bền vững.

Ông nhiều lần nhấn mạnh “chống lãng phí” như một động lực quan trọng cho tăng trưởng. Vì sao ông cho rằng đây là điểm then chốt, đặc biệt trong bối cảnh đặt mục tiêu tăng trưởng hai con số?

Thực tế thời gian qua cho thấy khả năng huy động nguồn lực của nền kinh tế là rất tốt. Đây chính là động lực tăng trưởng mạnh được kỳ vọng. Nhưng rủi ro ở chỗ chúng ta đang dựa quá nhiều vào nguồn lực “tĩnh”. Trong giai đoạn tới, muốn tăng trưởng cao, dĩ nhiên vẫn phải huy động lượng vốn rất lớn. Nhưng nếu chỉ tập trung vào huy động mà không nâng cao hiệu quả sử dụng, thì thật sự là chưa đủ.

Trọng tâm phải chuyển mạnh sang chống lãng phí. Nền kinh tế của chúng ta đang lãng phí lớn. Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhấn mạnh sớm điểm này. Hàm ý ở đây rất rõ: Không nên chỉ tập trung vào huy động thêm nguồn lực, mà cần chú trọng đặc biệt vào việc sử dụng nguồn lực hiệu quả, thậm chí, phải quyết liệt bắt đầu từ đây. Làm được điều này thì kỷ cương sẽ tốt hơn, hiệu quả tăng trưởng sẽ cao hơn.

Lấy ví dụ cụ thể: hiện nay có gần 2.900 dự án đầu tư bị ách tắc do vướng pháp lý. Số vốn bị kẹt lên tới gần 250 tỷ đô la Mỹ. Năm 2026, tiếp theo năm 2025, nếu tháo gỡ được, ví dụ, 1.000 dự án, thì nguồn lực được giải phóng đã có thể lên tới 70–80 tỷ USD. Việc khơi thông chỉ dòng vốn đang “nghẽn” đó đã đủ để “thức dậy” nền kinh tế và kích hoạt tăng trưởng mạnh mẽ.

Nếu những nguồn lực ấy tiếp tục bị treo, thì lãi suất vẫn phải trả, vốn bị hao mòn, tài sản xuống cấp, lao động bị lãng phí trên quy mô lớn, doanh nghiệp Việt vẫn khó vươn mình. Đó là tổn thất rất lớn cho xã hội. Chống lãng phí ở đây không phải nhằm truy cứu trách nhiệm quá khứ, mà chủ yếu là thiết kế cơ chế xử lý các tồn đọng, và quan trọng hơn là không gây ra lãng phí mới.

Cần xử lý song song hai loại lãng phí: một là những lãng phí đã tồn đọng thì phải tháo gỡ để giải phóng cho nền kinh tế; hai là những gì chuẩn bị làm thì phải có cơ chế ngăn chặn lãng phí từ đầu. Nếu làm tốt việc này, hoàn toàn có thể nâng mức tăng trưởng lên cao hơn 8% của năm 2025 đáng kể.

Cần đặc biệt ghi nhớ rằng chống lãng phí không chỉ giúp làm tăng GDP, mà quan trọng hơn là làm cho nền kinh tế trở nên lành mạnh, kỷ cương và minh bạch hơn.

Kì tới: TS Trần Đình Thiên: Giai đoạn “giải nén” nền kinh tế

Đi nhanh trong năm 2025 và đi bền cho những năm tớiViệt Nam đã có nhiều thành quả trong năm 2025 khi nền kinh tế vẫn giữ được nhịp tăng trưởng cao trong bối cảnh thế giới nhiều biến động nhưng đi kèm là sự dè dặt khi nhìn sâu hơn vào những gì đang nâng đỡ tăng trưởng, và những sức ép cho năm tới.