
Năm 2025 qua đi với bối cảnh quốc tế thuận nghịch đan xen, nhưng nghịch nhiều hơn. Ba thuận lợi chính là: kinh tế thế giới không suy giảm, duy trì đà tăng trưởng gần bằng năm trước (3,2%), có thể tiếp tục đà này trong năm tới, với sức chống chịu của các nền kinh tế ngày một tốt lên; Lạm phát tiếp tục giảm, lãi suất giảm, tạo đà kích cầu đầu tư, tiêu dùng, sản xuất - kinh doanh; Xu hướng xanh hóa, số hóa, chuyển đổi năng lượng, cải cách thể chế và đầu tư hạ tầng tiếp tục được đẩy mạnh, dù chính quyền một số quốc gia có thay đổi cách tiếp cận về chuyển đổi xanh.
Tuy nhiên, 2025 cũng là năm đầy biến cố với xung đột địa chính trị, cạnh tranh chiến lược về thương mại – công nghệ, bảo hộ và thuế quan thương mại gia tăng; một số nền kinh tế tăng trưởng chậm lại (như Mỹ, Trung Quốc và một số quốc gia châu Âu…); rủi ro an ninh năng lượng, an ninh chuỗi cung ứng, an ninh mạng – dữ liệu, tội phạm kinh tế - công nghệ gia tăng; tỷ giá, giá vàng, giá tài sản mã hóa biến động mạnh; biến đổi khí hậu, thiên tai bất thường… Năm 2026 dự báo những rủi ro này vẫn hiện hữu, khó lường, mang lại cả cơ hội và thách thức rõ nét hơn cho những quốc gia hội nhập sâu rộng như Việt Nam.
Ở trong nước, nhiều kết quả “ấn tượng” trong bối cảnh nhiều rủi ro, thách thức ở bên ngoài cũng như những thay đổi nội tại. Điểm sáng đầu tiên là lãnh đạo Đảng và Nhà nước quyết liệt đột phá về thể chế, sắp xếp tinh gọn tổ chức - bộ máy, sáp nhập bộ - ngành, tỉnh – thành, vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, được nhân dân và doanh nghiệp ủng hộ, kỳ vọng.

Nhiều cơ chế, chính sách đột phá ở các lĩnh vực then chốt (khoa học công nghệ, hội nhập quốc tế, cải cách thể chế, phát triển kinh tế tư nhân, đảm bảo an ninh năng lượng, đổi mới giáo dục – đào tạo và y tế, cùng nhiều cơ chế đặc thù cho một số tỉnh, thành phố lớn…) được ban hành, tạo nền tảng chính trị vững chắc cho mục tiêu phát triển thời gian tới.
Các chính sách tài khóa (giãn hoãn, giảm thuế và phí), chính sách tiền tệ (bình ổn lãi suất, cho phép cơ cấu lại nợ, tăng tiếp cận tín dụng, ổn định tỷ giá, thị trường vàng…) được ban hành. Nhiều luật quan trọng và nghị quyết đặc thù được Quốc hội thông qua, vừa nhằm giải quyết điểm nghẽn, vừa kiến tạo phát triển... Những quyết sách này góp phần hỗ trợ người dân, doanh nghiệp, vượt qua bão lũ chưa từng có, kích cầu tạo đà phục hồi kinh tế, tạo nền tảng pháp lý cho phát triển nhanh, bền vững và bao trùm hơn thời gian tới. Nền kinh tế nhờ vậy phục hồi mạnh, tăng trưởng quý sau cao hơn quý trước, cả năm ước đạt khoảng 8% và năm 2026 cũng như cả giai đoạn 2026-2030 phấn đấu đạt trên 10%, trong bối cảnh thế giới bất định và tăng trưởng chậm lại như nêu trên.
Kinh tế vĩ mô Việt Nam cơ bản ổn định, với lạm phát tăng trong tầm kiểm soát (khoảng 3,4%), lãi suất cơ bản ổn định (dù đang nhích lên gần đây), tỷ giá và nợ xấu tăng trong tầm kiểm soát, các cân đối lớn (về thương mại, thu - chi ngân sách, tiết kiệm - đầu tư, thâm hụt ngân sách, nợ công, nợ nước ngoài, nghĩa vụ trả nợ của Chính phủ…), an sinh xã hội, an ninh lương thực, an ninh năng lượng được bảo đảm, ở mức an toàn và thấp hơn các nước tương đồng.
Kinh tế tư nhân, đầu tư công, thu hút FDI, đa dạng hóa thị trường xuất khẩu được quan tâm thúc đẩy. Ứng dụng khoa học công nghệ (KHCN), chuyển đổi số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và chuyển đổi năng lượng được đẩy mạnh. Nhiều dự án công nghệ cao (gồm cả điện tử, bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu…) được thu hút, thanh toán không dùng tiền mặt tăng nhanh, tài chính xanh và sản xuất, tiêu dùng xanh được quan tâm hơn, quy hoạch điện VIII điều chỉnh được ban hành, góp phần đảm bảo an ninh và xanh hóa dần năng lượng. Trung tâm tài chính quốc tế, khu thương mại tự do, thị trường tài sản mã hóa, thị trường carbon được thành lập, thị trường chứng khoán được nâng hạng.... Đây sẽ là những động lực tăng trưởng truyền thống và mới, tạo đà phát triển nhanh và bền vững hơn thời gian tới.
Hoạt động của khối doanh nghiệp phục hồi rõ nét, dù không đồng đều và còn nhiều thách thức. Tỷ lệ doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường so với lượng doanh nghiệp gia nhập thị trường giảm từ 1,23 lần trong quý 1/2024 xuống còn gần 0,75 lần cuối năm 2025.
Thu ngân sách đạt kết quả tích cực, bằng 130% dự toán, ước tăng 17%, thể hiện đà phục hồi của xuất - nhập khẩu, sản xuất và tiêu dùng cũng như việc đa dạng hóa nguồn thu, trong bối cảnh chính sách tài khóa tiếp tục mở rộng hỗ trợ, có trọng điểm; tạo dư địa cho thực thi chính sách tài khóa mở rộng và phục vụ công tác cải cách tiền lương, đổi mới giáo dục – đào tạo, y tế đang tiến hành.
Hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế đạt nhiều kết quả quan trọng với nhiều chuyến thăm cấp cao, nâng cấp quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với nhiều quốc gia lớn, triển khai và đàm phán mới các hiệp định thương mại tự do (FTA) và làm sâu sắc thêm quan hệ hợp tác với nhiều đối tác khác.
Dù vậy, nền kinh tế còn nhiều khó khăn, thách thức. Trước tiên là các động lực tăng trưởng phục hồi chưa mạnh, không đồng đều. Xuất khẩu hàng hóa đang chậm lại (tháng sau giảm so với tháng trước từ tháng 8/2025 đến nay, chủ yếu là do ngấm chính sách thuế quan mới của Mỹ nhiều hơn) và tỷ trọng xuất khẩu hàng hóa của khu vực kinh tế trong nước tiếp tục giảm (từ mức 28% cuối năm 2024 xuống còn 23,2% cuối năm 2025), trong khi tỷ trọng này của khu vực FDI tăng lên tương ứng. Đầu tư công giải ngân còn chậm.
Hết tháng 12/2025, tỷ lệ giải ngân của cả nước ước đạt gần 80% kế hoạch, hết tháng 1/2025 có thể đạt 95%, còn cách xa so với mục tiêu đề ra là 100%. Đầu tư tư nhân tăng khoảng 8,5%, phục hồi từ mức tăng 7% của năm trước, nhưng còn khá thấp so với mức tăng 15-17% trước dịch Covid-19.
Tiêu dùng cuối cùng ước tăng 8%, phục hồi từ mức tăng 7% của năm 2024, nhưng doanh thu bán lẻ vẫn chỉ bằng 80% so với trước dịch Covid-19, chứng tỏ sức cầu đầu tư và tiêu dùng còn yếu. Nợ xấu gia tăng nhẹ dù có chính sách giãn hoãn, cơ cấu lại nợ, chứng tỏ doanh nghiệp, bên vay còn nhiều khó khăn, phục hồi không đồng đều và chịu tác động tiêu cực (bao gồm cả hậu quả của 3 cơn bão lịch sử trong năm).
Thị trường bất động sản phục hồi nhưng thiếu bền vững, giá nhà đất tăng cao, cung – cầu còn mất cân đối; lãi suất trong xu hướng tăng (thanh khoản hệ thống ngân hàng thu hẹp do tín dụng tăng nhanh 18,5% so với huy động vốn chỉ tăng 14,5% khi các kênh đầu tư khác hấp dẫn); tỷ giá, thị trường vàng biến động nhiều hơn; thu hẹp dư địa chính sách tiền tệ. Tiến trình cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước, tổ chức tín dụng yếu kém còn chậm so với yêu cầu.
Thu ngân sách chưa thực sự bền vững khi hơn 20% nguồn thu là từ nhà đất (thậm chí lên đến 25% trong dự toán ngân sách năm 2026). Những yếu tố này khiến chúng ta phải hết sức quan tâm đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô và đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế, ngân sách nhà nước trong bối cảnh tăng trưởng cao.
Một thách thức nữa là chất lượng thể chế, pháp luật và khâu thực thi còn nhiều bất cập khi nhiều văn bản được ban hành cùng một lúc, hướng dẫn và thực hiện khó theo kịp. Vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, chuyển đổi mô hình họat động của hộ kinh doanh còn vướng mắc.
Chất lượng tăng trưởng chưa cao, dù năng suất lao động năm 2025 ước tăng 6,8% (từ mức tăng 5,5% năm trước) nhưng không đồng đều. Hệ số ICOR còn cao (tính theo số tuyệt đối, ở mức 5 lần), cho thấy hiệu quả đầu tư cần quan tâm cải thiện. Tính tự chủ, tự cường của nền kinh tế còn khiêm tốn khi tỷ lệ nội địa hóa bình quân các ngành, lĩnh vực mới đạt khoảng 36,6%.
Năm 2026 đã đến, kinh tế thế giới dự báo có thuận lợi và khó khăn đan xen, nhưng rủi ro, bất định gia tăng, tác động tiêu cực đến xuất khẩu, thu hút đầu tư, chuyển dịch năng lượng của Việt Nam, cùng với nhiều thách thức nội tại đã nêu. Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng 10% trở lên và lạm phát tăng khoảng 4,5%. Đây là những mục tiêu rất thách thức trong bối cảnh phải vừa tiếp tục cải cách, vừa chống lãng phí, khơi thông nguồn lực, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội cao hơn nhiều so với năm 2025, tạo đà tăng trưởng hai con số trong cả giai đoạn 2026-2030.
Tuy nhiên, người dân và doanh nghiệp có quyền kỳ vọng vào những bứt phá với điều kiện. Đầu tiên là cần kiên định, quyết liệt với công cuộc đổi mới mạnh mẽ đang diễn ra, trong đó đột phá về thể chế, tinh gọn tổ chức - bộ máy, vận hành chính quyền địa phương 2 cấp cần gắn với cải cách tiền lương và công tác tổ chức – nhân sự.
Tiếp đến là hiệu quả hơn trong khâu thực thi cơ chế, chính sách, luật lệ đã ban hành; quyết liệt cải thiện thực chất môi trường đầu tư - kinh doanh, đặc biệt là chất lượng và hiệu quả thực thi công vụ các cấp.
Đổi mới mô hình tăng trưởng (từ dựa nhiều hơn vào vốn và lao động sang dựa nhiều hơn vào KHCN, chuyển đổi số, cải cách và tăng năng suất; thúc đẩy các động lực tăng trưởng truyền thống cùng với việc phát huy tốt hơn các động lực tăng trưởng mới, nhất là từ các nghị quyết chiến lược đã và sẽ ban hành. Những chính sách, giải pháp này, nếu làm tốt, chắc chắn sẽ góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, cả lượng và chất.
Kiên định mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, đẩy nhanh tiến trình chuyển đổi kép (xanh và số), chuyển đổi năng lượng, chủ động xây dựng năng lực thích ứng biến đổi khí hậu, thiên tai…. Những doanh nghiệp, tổ chức tín dụng yếu kém còn lại phải quyết liệt xử lý, không thể chậm hơn, vì đây là những “cục máu đông”, khiến phân bổ nguồn lực kém hiệu quả và chi phí tốn kém.
Quan tâm cơ cấu lại đầu tư công (hiện tại 80% đầu tư công dành cho cơ sở hạ tầng, trong khi đầu tư cho KHCN, giáo dục, y tế còn rất khiêm tốn) và cơ cấu lại ngân sách nhà nước theo hướng đa dạng hóa nguồn thu, giảm phụ thuộc nhiều vào nhà đất.
Bình ổn giá nhà đất và lành mạnh hóa thị trường bất động sản; cải cách mạnh mẽ thị trường tài chính, tăng huy động tài lực từ thị trường vốn, giảm áp lực tín dụng ngân hàng, đa dạng hóa các kênh huy động vốn khác, quan tâm hơn đến phân bổ và sử dụng tài lực hiệu quả. Xây dựng và nhất quán thực thi đề án nâng cao năng lực tự lực, tự chủ, tự cường của nền kinh tế và các ngành, lĩnh vực chiến lược.
Tất cả những quyết sách này đều đã được khởi động, đạt kết quả ban đầu. Vì thế, chúng ta có quyền kỳ vọng vào nỗ lực “bứt phá” thành công trong năm mới và tiếp theo.
