Bài toán vốn của 5 năm tới

Nhưng số vốn 140.000 tỷ đồng của tuyến đường sắt này chỉ là một lát cắt rất nhỏ trong bức tranh lớn hơn nhiều. Trong 5 năm tới, Việt Nam đặt mục tiêu tổng vốn đầu tư toàn xã hội lên tới 38,5 triệu tỷ đồng, tương đương 40% GDP, cao hơn rõ rệt so với mặt bằng khoảng 33% GDP của giai đoạn 2020–2025. 

Như vậy, để đạt tốc độ tăng trưởng hai con số, nền kinh tế phải bước vào một chu kỳ huy động nguồn lực lớn. Nếu nhiệm kỳ trước, tổng đầu tư công trung hạn mới ở mức 2,87 triệu tỷ đồng, thì giai đoạn 2026–2030 con số này dự kiến lên tới 8,22 triệu tỷ đồng. Phần huy động trực tiếp từ ngân sách cũng từ khoảng 2,4 triệu tỷ đồng tăng lên 6,5 triệu tỷ đồng, tức gần gấp 2,7 lần.

Ga Ha Long.jpg
Phối cảnh nhà ga Hạ Long tại Quảng Ninh

Đáng nói hơn, trong 8,22 triệu tỷ đồng vốn ngân sách, vốn ngân sách Trung ương dự kiến khoảng 3,8 triệu tỷ đồng, còn ngân sách địa phương lên tới 4,42 triệu tỷ đồng. Điều đó cho thấy trọng tâm chuyển hóa nguồn lực sẽ dồn rất mạnh xuống các địa phương.

Điểm rất mới trong tư duy điều hành là số lượng dự án đầu tư công dự kiến giảm khoảng 30% so với giai đoạn 2021–2025, để tăng quy mô, tăng hiệu quả và nâng sức lan tỏa của từng dự án.

Đây là một thay đổi rất đáng chú ý vì thay vì dàn trải, nhiệm kỳ mới đang hướng tới ít dự án hơn nhưng mỗi dự án phải đủ lớn để kéo tăng trưởng, tạo việc làm và mở rộng không gian phát triển.

Nhưng đi cùng quy mô vốn lớn là bài toán tính khả thi. Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế và Tài chính Phan Văn Mãi đặt ra yêu cầu: việc cân đối nguồn lực cho kế hoạch 2026–2030 sẽ là thách thức rất lớn vì phụ thuộc trực tiếp vào khả năng duy trì tăng trưởng hai con số, sức thu thực của ngân sách và kỷ luật vay nợ.

Một chi tiết rất đáng chú ý trong lập luận của cơ quan thẩm tra là toàn bộ thiết kế này gắn trực tiếp với mục tiêu tăng trưởng hai con số. Theo tính toán, thu ngân sách nhà nước 5 năm tới được kỳ vọng tăng khoảng 1,7 lần, trong khi tỷ trọng chi đầu tư phát triển dự kiến lên tới 40% ngân sách, cao hơn rõ rệt giai đoạn trước. 

Điều đó cho thấy 8,22 triệu tỷ đồng không chỉ là bài toán chi tiêu, mà là phần vốn mồi để bảo đảm đầu tư công chiếm khoảng 20% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, từ đó dẫn dắt các dòng vốn ngoài nhà nước.

Nói một cách dễ hiểu, không thể xây cả nhiệm kỳ trên giả định mọi thứ đều thuận lợi. Kế hoạch vốn phải đi cùng các phương án dự phòng rủi ro. Nó cũng phải bám sát sức thu thực của ngân sách và nguyên tắc vay trong khả năng trả nợ, để không dồn áp lực sang giai đoạn sau. 

Nhiều đại dự án trên cả nước

Khi trải dọc các “đại công trường” của 5 năm tới, quy mô ấy còn hiện rõ hơn: 1,7 triệu tỷ đồng cho đường sắt cao tốc Bắc – Nam, khoảng 3,4 triệu tỷ đồng cho nguồn điện và lưới truyền tải, hơn 3,065 triệu tỷ đồng cho hệ thống metro Hà Nội và TP.HCM, khoảng 280.000 tỷ đồng cho điện hạt nhân Ninh Thuận, khoảng 400.000 tỷ đồng cho Long Thành. 

Chỉ riêng ba cụm vốn đường sắt cao tốc, điện và metro đã vượt 8 triệu tỷ đồng, riêng khối điện 3,4 triệu tỷ đồng và metro 3,065 triệu tỷ đồng, tổng nhu cầu vốn đã lên tới 6,46 triệu tỷ đồng. 

Chưa bao giờ nhiều “đại công trường” cùng xuất hiện trên bản đồ phát triển như lúc này, từ đường sắt, điện, metro cho tới những đại đô thị đang mở rộng không gian của các cực tăng trưởng.

Nếu nhìn về không gian tăng trưởng, áp lực vốn còn lớn hơn. Hà Nội dự kiến cần khoảng 5 triệu tỷ đồng, TP.HCM khoảng 5 triệu tỷ đồng cho giai đoạn 2026–2030. Chỉ riêng hai đầu tàu này đã vào khoảng 10 triệu tỷ đồng, tương đương gần 30% tổng nhu cầu vốn của cả nước.

Ở tầng dễ nhìn thấy hơn của thị trường, 27 đại đô thị đang triển khai hoặc chuẩn bị triển khai có tổng vốn khoảng 115 tỷ USD, tương đương hơn 3 triệu tỷ đồng. Đây mới chỉ là phần nổi. Phía dưới là 3.297 dự án bất động sản trên cả nước với tổng vốn lên tới 7,42 triệu tỷ đồng, gần bằng toàn bộ đầu tư công 5 năm.

Năm 2025, cả nước đã tổ chức 3 đợt khởi công và khánh thành đồng loạt 564 dự án trọng điểm với tổng vốn hơn 5,12 triệu tỷ đồng. Đó đã là một năm có thể coi là “kỷ lục công trình”. Nhưng con số ấy vẫn chưa bằng lượng vốn ngoài ngân sách mà nền kinh tế phải huy động cho chỉ một năm của nhiệm kỳ mới: 6,1 triệu tỷ đồng.

Những gì từng được coi là mức đỉnh của một năm đầu tư nay gần như trở thành mức sàn cho từng năm của giai đoạn 2026–2030.

Tiền đang nằm ở đâu?

Vì vậy, 8,22 triệu tỷ đồng đầu tư công chỉ có thể là vốn mồi. Phần quyết định thành bại nằm ở 30,5 triệu tỷ đồng còn lại, tức khoảng 6,1 triệu tỷ đồng mỗi năm, phải đến từ doanh nghiệp trong nước, FDI, vốn quốc tế, tiền trong dân và những dòng vốn đang mắc trong hàng nghìn dự án.

Đến cuối năm 2025, tổng tiền gửi toàn hệ thống đã ở mức kỷ lục khoảng 15,3–16,2 triệu tỷ đồng. Chỉ riêng tiền gửi dân cư đã chạm khoảng 8 triệu tỷ đồng, còn tiền gửi doanh nghiệp hơn 8,35 triệu tỷ đồng.

Những con số này rất đáng suy nghĩ. Chỉ riêng tiền gửi dân cư đã lớn hơn lượng vốn xã hội cần huy động cho một năm. Còn tổng tiền gửi toàn hệ thống đã tương đương hơn một nửa phần vốn ngoài ngân sách của cả giai đoạn 2026–2030.

Nhìn vào khối tiền gửi ấy, câu hỏi không còn là tiền ở đâu nữa. Cái khó là làm sao để một phần trong khối tiền kỷ lục ấy rời khỏi trạng thái phòng thủ, chảy vào nhà máy, hạ tầng, đổi mới sáng tạo và các đại công trường mới, mà vẫn giữ ổn định giá cả, lãi suất, tỷ giá và an toàn nợ công.

Bài toán của 5 năm tới không chỉ là tìm tiền, mà còn là tránh tạo thêm sức ép lên lãi suất và thanh khoản khi nhu cầu vốn cho tăng trưởng hai con số tăng vọt. Ngoài ra còn là chuyện tránh lượng vốn khổng lồ ấy chảy lệch vào đầu cơ tài sản, tạo áp lực lạm phát, lãi suất, nợ công hay rủi ro hệ thống.

Nếu giai đoạn 2020–2025 là nhiệm kỳ tăng tốc đầu tư công, thì 2026–2030 sẽ là phép thử lớn hơn nhiều. Quan trọng là biến bước nhảy vốn gần gấp ba ấy thành những công trường thật, nhà máy thật, năng lực sản xuất thật và dòng vốn ấy phải mở thêm việc làm ổn định, giúp thu nhập khá hơn, việc làm bền hơn cho mỗi gia đình.