Gần đây, khi ghé một khu dân cư ở TP.HCM, tôi khá bất ngờ khi ngước lên và thấy những tấm pin mặt trời đã phủ gần kín mái nhiều căn nhà. Không phải một hai hộ làm thử, mà cả dãy phố gần như cùng nghĩ đến một cách đầu tư mới cho chính hóa đơn điện của mình.

Một chủ nhà cho biết, lắp hệ thống hết khoảng 200 triệu đồng, nhưng mỗi tháng lượng điện mặt trời tạo ra giúp gia đình tiết kiệm tương đương khoảng 4 triệu đồng tiền điện. Với họ, đó không chỉ là câu chuyện tiết kiệm, mà là một khoản đầu tư có lãi, hoàn vốn nhìn thấy được bằng từng tháng.

điện mặt trời 2025 (49).jpg
Người dân đã bắt đầu tự lo một phần điện cho mình trước khi quy hoạch chạy kịp. Ảnh: Bảo Kiên

Câu chuyện trên một mái nhà ở TP.HCM thực ra chạm đúng vào bài toán điện của cả nền kinh tế. Ở quy mô toàn quốc, nguồn cung từ điện mặt trời mái nhà đầu cực đã lên tới 50,8 triệu kWh trong ngày 7/4, chiếm 4,7% tổng nguồn điện phát trong ngày, chính thức vượt điện gió và điện sinh khối để trở thành nguồn cung điện lớn thứ 5 của Việt Nam.

Nhìn rộng hơn cơ cấu nguồn điện ngày hôm đó, có thể thấy hệ thống hiện tại vẫn đang phải “gồng” bằng các trụ cột cũ: nhiệt điện than đạt 626,6 triệu kWh, chiếm 58,1%, thủy điện 187,5 triệu kWh (17,4%), tuabin khí 102,9 triệu kWh (9,6%). Điện gió chỉ đạt 38,3 triệu kWh (3,6%), điện sinh khối 5,2 triệu kWh (0,5%), còn điện mặt trời đạt 56,9 triệu kWh (5,3%). 

Điều đó cho thấy nguồn nền truyền thống vẫn đang gánh phần lớn tăng trưởng điện của nền kinh tế.

Điều đáng suy nghĩ là khi người dân tự bỏ tiền phủ kín mái nhà bằng pin mặt trời, họ không chỉ đang tính toán hóa đơn điện cho gia đình mình. 

Ở một nghĩa rộng hơn, người dân đã bắt đầu tự lo một phần điện cho mình trước khi quy hoạch chạy kịp.

Đó cũng là lý do câu chuyện điện trong giai đoạn 2026–2030 không còn chỉ là câu chuyện của EVN hay của một vài tập đoàn năng lượng lớn. Nó đã trở thành một bài toán vốn chưa từng có ở quy mô toàn nền kinh tế.

Ngành điện có một con số gần như bất di bất dịch: hệ số đàn hồi điện. Tức là, cứ tăng trưởng kinh tế thêm 1 điểm phần trăm thì tăng trưởng điện thường phải gấp 1,5–2 lần. Nếu Việt Nam thực sự bước vào quỹ đạo tăng trưởng hai con số, điện sẽ không tăng theo GDP, mà tăng nhanh hơn GDP rất nhiều.

Ở quy mô hiện tại, công suất tiêu thụ điện cực đại của cả nước đã lên tới 54.500 MW. Với hệ số đàn hồi này, mỗi năm hệ thống phải bổ sung thêm khoảng 6.500–8.200 MW, tức tương đương vài cụm điện khí cỡ Nhơn Trạch 3–4.

Đường dốc nhu cầu ấy giải thích vì sao Quy hoạch điện VIII điều chỉnh đưa ra một con số rất lớn: 136,3 tỷ USD cho giai đoạn 2026–2030, tương đương khoảng 3,54 triệu tỷ đồng cho phát triển nguồn và lưới truyền tải.

Bên cạnh đó, từ quy mô công suất nguồn khoảng 87.600 MW hiện nay, đến năm 2030 Việt Nam phải đạt khoảng 183.000 MW. Điều đó đồng nghĩa, hệ thống phải bổ sung thêm gần 95.400 MW trong chưa đầy 5 năm, một khối lượng công trình gần như chưa từng có trong lịch sử ngành điện.

Nếu lấy nhịp đầu tư rất cao mà EVN đang duy trì làm chuẩn, phép tính sẽ hiện rõ sức nặng của bài toán này. 

Trong 5 năm qua, EVN đã đầu tư gần 500.000 tỷ đồng, riêng năm 2024 giải ngân 112.892 tỷ đồng, năm 2025 đạt 125.778 tỷ đồng. Giả sử trong 4 năm tới EVN tiếp tục giữ được nhịp khoảng 125.000 tỷ đồng mỗi năm, tổng phần mà tập đoàn này có thể gánh thêm vào khoảng 500.000 tỷ đồng.

Nói cách khác, sau khi trừ phần EVN có thể lo, nền kinh tế vẫn phải huy động thêm hơn 3 triệu tỷ đồng cho điện trong 4 năm tới.

Ba triệu tỷ đồng là con số rất khó hình dung nếu chỉ đứng riêng lẻ. Nhưng đặt cạnh một hình ảnh quen thuộc hơn, quy mô sẽ hiện ra rất rõ: phần vốn xã hội còn phải bỏ ra cho điện trong 4 năm tới lớn gấp khoảng ba lần đại công trường cao tốc quốc gia, vốn vào khoảng 900.000 tỷ đến 1 triệu tỷ đồng trong nhiều năm qua.

Nếu vẫn còn khó hình dung, có thể quy chiếu bằng một dự án cụ thể hơn. Nhơn Trạch 3 và 4, cụm điện LNG đầu tiên của Việt Nam, có tổng mức đầu tư khoảng 1,4 tỷ USD, công suất 1.624 MW, dự kiến cung cấp hơn 9 tỷ kWh mỗi năm. Như vậy, quy mô vốn của TSĐ 8 trong 5 năm tới tương đương gần 100 cụm điện khí cỡ Nhơn Trạch 3–4.

Cái khó nhất nằm ở chỗ EVN dự kiến chỉ đầu tư khoảng 13.000 MW, nghĩa là gần 83.000 MW còn lại phải do Petrovietnam, khu vực tư nhân, doanh nghiệp FDI và các nhà đầu tư khác đảm nhận. 

Đây là lý do điện của giai đoạn tăng trưởng hai con số không thể còn là câu chuyện của riêng một doanh nghiệp nhà nước, mà là bài kiểm tra thật sự về năng lực huy động vốn của toàn bộ nền kinh tế.

Trong bức tranh ấy, Petrovietnam đang nổi lên như nhà đầu tư điện nền lớn thứ hai bên cạnh EVN, đặc biệt ở chuỗi LNG và điện khí phía Nam. Chỉ riêng năm 2025, tổng đầu tư của tập đoàn đã vượt 51.000 tỷ đồng, tăng 44% so với cùng kỳ. 

Việc hoàn thành Nhơn Trạch 3–4 không chỉ bổ sung nguồn điện nền công suất lớn cho miền Nam, mà còn là mảnh ghép chiến lược để giữ an ninh điện cho khu vực phía Nam — nơi tập trung sản xuất, logistics và các trung tâm dữ liệu lớn nhất cả nước.

Ba triệu tỷ đồng cho điện vì thế không chỉ để tránh thiếu điện sinh hoạt. Đó là cái nền năng lượng cho giấc mơ tăng trưởng hai con số, cho chip bán dẫn, trung tâm dữ liệu, AI, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và đường sắt tốc độ cao trong thập niên tới.

Nhìn từ những mái nhà phủ kín pin mặt trời ở TP.HCM, có thể thấy xã hội đã bắt đầu tự đi trước một bước. 

Phần còn lại bây giờ không còn nằm trên mái nhà của người dân nữa, mà nằm ở tốc độ sửa thể chế, mở truyền tải và tạo niềm tin đủ lớn để dòng vốn xã hội chảy vào điện.

Giai đoạn 2026 - 2030: Tổng vốn đầu tư phát triển nguồn và lưới điện truyền tải tương đương 136,3 tỷ USD, trong đó: đầu tư cho nguồn điện khoảng 118,2 tỷ USD, lưới điện truyền tải khoảng 18,1 tỷ USD.

Định hướng giai đoạn 2031 - 2035: Ước nhu cầu vốn đầu tư phát triển nguồn và lưới điện truyền tải tương đương 130,0 tỷ USD, trong đó: đầu tư cho nguồn điện khoảng 114,1 tỷ USD, lưới điện truyền tải khoảng 15,9 tỷ USD, sẽ được chuẩn xác trong các quy hoạch tiếp theo.

Định hướng giai đoạn 2036 - 2050: Ước nhu cầu vốn đầu tư phát triển nguồn và lưới điện truyền tải tương đương 569,1 tỷ USD, trong đó: đầu tư cho nguồn điện khoảng 541,2 tỷ USD, lưới điện truyền tải khoảng 27,9 tỷ USD, sẽ được chuẩn xác trong các quy hoạch tiếp theo.

Trích Quyết định số 768/QĐ-TTg ngày 15/4/2025 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Điều chỉnh Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 (Quy hoạch điện VIII).