Kể từ khi hồ sơ được tiếp nhận, đến khi nhận được giấy, thời gian chỉ chưa đến hai tuần, nhanh đến mức anh gọi là “kỷ lục”. Anh kể, trước đây, doanh nghiệp muốn đầu tư vào AI, kinh tế số cùng nhiều lĩnh vực khác ở Mỹ và một số nước phát triển, nhưng rồi không thể vượt qua được các “núi” thủ tục.

Vì vậy, anh đưa cho tôi xem hồ sơ và nói: “Tôi đã cầm giấy chứng nhận đầu tư đây rồi. Chúng tôi rất phấn khích”, anh nói, và bổ sung bước đầu doanh nghiệp sẽ đầu tư 60-70 triệu USD, và sau này có thể gấp đôi.

Niềm vui của vị doanh nhân là thành quả của Luật Đầu tư sửa đổi năm 2025 bắt đầu có hiệu lực từ tháng 3/2026. Luật đã bỏ thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư ra nước ngoài  nhưng vẫn còn thủ tục Giấy chứng nhận đối với những dự án thuộc diện phải đăng ký.

Bớt được một cửa là một bước tiến; việc xin giấy nhanh đến mức được gọi là “kỷ lục” cho thấy phần việc còn lại cũng rất đáng bàn.

tong bi thu chu tich nuoc to lam du toa dam ban tron cap cao voi cac doanh nghiep lon cua hoa ky17 756.jpeg
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chứng kiến lễ trao các hợp đồng, thoả thuận hợp tác giữa doanh nghiệp Việt Nam và Mỹ sáng 23/9 (giờ địa phương), tại thành phố New York. Ảnh: Thống Nhất/TTXVN

Bỏ một cửa, giữ một cửa

Bản dự thảo Luật Đầu tư năm 2025 từng có phương án đi xa hơn: bỏ cả thủ tục chấp thuận chủ trương lẫn Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài, để nhà đầu tư đăng ký với Ngân hàng Nhà nước khi chuyển vốn.

Đề xuất này ban đầu được cộng đồng doanh nghiệp rất hoan nghênh và ủng hộ. Một doanh nghiệp tư nhân mang tiền của mình đi đầu tư vào một doanh nghiệp nước ngoài, mua công nghệ, tìm khách hàng hay mở cơ sở ở nước khác, vì sao cơ quan quản lý trong nước phải duyệt địa điểm, quy mô và tiến độ kinh doanh của họ? Hơn nữa, nếu thương vụ thay đổi theo thị trường, doanh nghiệp lại quay về nước để xin sửa giấy.

Tiếc là phương án ấy không có được sự đồng thuận. Đến phiên trình Quốc hội ngày 11/11, dự thảo đã chọn bỏ thủ tục chấp thuận chủ trương. Cơ quan thẩm tra nêu một câu hỏi khó hơn: Nếu bỏ luôn giấy chứng nhận, lấy thông tin nào để theo dõi dòng vốn? Họ đề nghị cơ chế thông báo hoặc đăng ký thông tin dự án, không phải đợi phê duyệt, và kết nối dữ liệu ấy với Ngân hàng Nhà nước để đối soát tiền chuyển đi.

Kết quả là một phương án trung gian. Luật 2025 bỏ bước chấp thuận chủ trương, nhưng giữ giấy chứng nhận cho những dự án thuộc diện phải đăng ký.

Bộ Tài chính vẫn phải báo cáo Thủ tướng xem xét, chấp thuận trước khi cấp giấy cho dự án vốn lớn hoặc xin cơ chế hỗ trợ đặc biệt. Nghị định sau đó đặt ngưỡng vốn lớn ở mức 1.600 tỷ đồng; dự án thông thường dưới 7 tỷ đồng, không thuộc ngành nghề có điều kiện, được miễn giấy. Nhà nước đã bỏ một cửa, song chưa từ bỏ việc cấp giấy và xem xét trước đối với một số dự án.

Một thủ tục qua hai, ba nhiệm kỳ

Khi sửa Luật Đầu tư năm 2024, Bộ trưởng Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng từng chia sẻ rằng, bộ sẽ phân cấp việc cấp phép khu công nghiệp và dự án đầu tư ra nước ngoài.

Tiếc là, vế sau - việc cấp phép dự án đầu tư ra nước ngoài - không nhận được sự đồng thuận; và nó không có trong dự thảo Luật Đầu tư trình Quốc hội.

Lùi thêm mười năm. Khi soạn Luật Đầu tư năm 2014, một số thành viên ban soạn thảo đã kiến nghị Bộ trưởng Kế hoạch và Đầu tư Bùi Quang Vinh bỏ thủ tục cấp phép cho các dự án đầu tư ra nước ngoài. Họ muốn doanh nghiệp Việt Nam tìm thị trường, đối tác và lợi nhuận ở khắp nơi, thay vì chỉ quanh quẩn trong nước. Ông Vinh rất ủng hộ.

Tuy vậy, chính ông cũng không thuyết phục được những người liên quan. Luật được thông qua cuối năm ấy vẫn giữ thủ tục quyết định chủ trương đối với một số dự án và giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài.

Hai đời bộ trưởng đều nhìn thấy nhu cầu thay đổi. Phải đến lần sửa luật năm 2025, Quốc hội mới bỏ được bước chấp thuận chủ trương. Đó là quãng đường mười một năm của một ý tưởng từng không qua nổi bàn soạn thảo.

Đi ra ngoài để mang gì về

Lý lẽ của những người muốn cải cách từ năm 2014, khi soạn thảo Luật Đầu tư, không chỉ là để doanh nghiệp có thêm nơi kiếm lời. Đầu tư ra nước ngoài có thể là cách bước vào hệ sinh thái công nghệ, tìm nhân lực, học quản trị và đưa những mối quan hệ mới về phục vụ sản xuất trong nước.

Doanh nghiệp Việt Nam cần phải bơi ra đại dương, sao cứ phải xin phép! Có quốc gia nào mà doanh nghiệp phải xin phép đầu tư ra nước ngoài như vậy không?

Hiện nay, Singapore có chương trình hỗ trợ doanh nghiệp tìm thị trường và lập cơ sở đầu tư ở nước ngoài. Tổ chức JETRO của Nhật Bản tư vấn, kết nối và hỗ trợ doanh nghiệp tại thị trường sở tại. Ngay cả Trung Quốc cũng vậy. Quy định về đầu tư ra nước ngoài của Trung Quốc có hiệu lực từ tháng 7/2026 ghi nhận quyền tự quyết, tự chịu rủi ro và lãi lỗ của nhà đầu tư, đồng thời vẫn phân loại hoạt động được khuyến khích, hạn chế hoặc cấm và rà soát các khoản đầu tư có thể ảnh hưởng an ninh quốc gia.

Mỗi nước có một cách quản lý nhưng điểm chung đáng chú ý là họ coi sự hiện diện của doanh nghiệp ở nước ngoài là một việc cần thúc đẩy.

Việt Nam, cho đến gần đây, vẫn chưa khuyến kích đầu tư ra nước ngoài, dù Việt Nam đã ký tới 19 FTAs thế hệ mới.

Báo chí từng phản ánh, không ít doanh nghiệp từng muốn đầu tư ra nước ngoài, nhưng rồi lại thôi, vì khó vượt qua các rào cản thủ tục.

Chính vì vậy, quy định nới lỏng hơn cho đầu tư ra nước ngoài trong Luật Đầu tư 2025 chắc chắn sẽ giúp thêm nhiều doanh mở rộng đầu tư ra nước ngoài.

Sau mười một năm tranh luận, đó là một thay đổi có thật. Điều đáng mong đợi tiếp theo là doanh nghiệp Việt Nam không phải coi việc hoàn tất một thủ tục nhanh chóng như một chuyện hiếm.

Khi họ đi tìm công nghệ, thị trường và cơ hội ở nước ngoài, Nhà nước nên hỗ trợ và giúp họ đi xa hơn, hơn là hạn chế.

Khi chia tay, vị cố vấn tập đoàn tư nhân đó nói: “Anh thử hình dung đi. Có rất nhiều người Việt thành công trong các tập đoàn công nghệ ở Mỹ. Vì sao chúng ta lại không đầu tư vào chính cách doanh nghiệp đang dẫn đầu đó!”.

Theo báo cáo của Bộ Tài chính, tính đến tháng 12/2025, Việt Nam đã đầu tư ra 85 quốc gia và vùng lãnh thổ với 1.991 dự án có tổng vốn trên 23,7 tỷ USD. Trong đó các địa bàn nhận đầu tư của Việt Nam nhiều nhất lần lượt là Lào (trên 6,2 tỷ USD, chiếm 26,2% tổng vốn); Campuchia (hơn 2,94 tỷ USD, chiếm 12,4% tổng vốn); Venezuela (trên 1,82 tỷ USD, chiếm 7,7% tổng vốn),…