
Tọa đàm khoa học quốc tế “Phật giáo ở khu vực sông Mê Kông” do Trung tâm Nghiên cứu Việt Nam (Trường Đại học Fulbright Việt Nam) phối hợp cùng Đại học Hamburg (Đức) tổ chức đầu tháng 10/2026 đã bóc tách hiện tượng tôn giáo độc đáo này.
Từ dòng chảy Mê Kông đến các phong trào 'cứu nhân độ thế' của những vị đạo sư
Tại tọa đàm, câu hỏi khởi thủy: “Một dòng sông có thể chuyên chở một tôn giáo như thế nào?” đã mở ra hành trình khám phá không gian văn hóa tâm linh của hàng trăm triệu tín đồ Phật giáo ở khu vực sông Mê Kông.

Dòng Mê Kông khởi nguồn từ cao nguyên Tây Tạng, xuôi qua các xứ sở Phật giáo Nam tông (Theravada) như Lào, Thái Lan, Campuchia, rồi tiếp nhận dòng chảy Phật giáo Đại thừa (Mahayana) từ miền Ngũ Quảng truyền vào khi đến Nam Bộ Việt Nam.
Điểm đặc sắc nhất ở khu vực này là sự ra đời của những tôn giáo nội sinh. Theo TS. Chung Hoàng Chương (nhà nghiên cứu nhân học và sinh thái lưu vực Mê Kông), trong buổi đầu khai phá vùng đất mới, lưu dân miền Nam phải đối mặt với muôn vàn trắc trở. Cuộc sống nổi trôi buộc họ phải tìm kiếm những điểm tựa tâm linh để tự cân bằng đời sống tinh thần.
Chính từ mảnh đất ấy, các phong trào tôn giáo bản địa như Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa và Phật giáo Hòa Hảo đã lần lượt “đâm chồi”. Điều làm nên nét độc đáo của Phật giáo vùng sông nước là sự xuất hiện của các bậc đạo sư mang đậm tinh thần ái quốc.
Từ Đức Phật Thầy Tây An (Đoàn Minh Huyên), Đức Bổn Sư Ngô Lợi tại chùa Tam Bảo (Ba Chúc), Đức Thầy Huỳnh Phú Sổ đến Quản cơ Trần Văn Thành ở căn cứ Bảy Thưa - Láng Linh… đều là những lãnh tụ tinh thần gắn bó mật thiết với phong trào chống ngoại xâm. Những hiện tượng này đã trở thành đề tài nghiên cứu của nhiều học giả quốc tế như GS. Pascal Bourdeaux hay GS. Hồ Tài Huệ Tâm...

TS. Chung Hoàng Chương phân tích: "Thay vì chọn con đường xuất thế ẩn tu chốn thâm sơn cùng cốc như quan niệm truyền thống, các vị đạo sư Nam Bộ lại chọn con đường nhập thế sâu sắc. Họ đi vào đời sống bằng cách chế tác các bài thuốc nam chữa bệnh, thuyết giảng những giáo lý mộc mạc nhằm trấn an lòng dân giữa một thời kỳ đầy tao loạn".
"Liều thuốc tâm lý" của phận người lênh đênh và hiện tượng đồng hóa tín ngưỡng
Giải mã căn nguyên khiến Phật giáo Nam Bộ đặc biệt chú trọng đến việc cứu độ nhân sinh và tế bần, TS. Chương chỉ ra rằng đời sống sông nước của cư dân miền Tây vốn chia thành nhiều tầng lớp: người sống trên sông, người sống gần sông, người mưu sinh ven bờ trong cảnh ngộ "năm chìm bảy nổi". Để nâng đỡ những thân phận lênh đênh, giáo lý của Bửu Sơn Kỳ Hương hay Tứ Ân Hiếu Nghĩa đóng vai trò như một cơ chế thích ứng tâm lý vô cùng hữu hiệu.
Các vị đạo sư cắt nghĩa rằng, những khổ đau hiện tại chỉ là giai đoạn "hạ nguơn" đầy thử thách mà nhân loại phải vượt qua để hướng tới "thượng nguơn" an lạc tại Hội Long Hoa. Niềm tin "sau cơn bĩ cực tới hồi thái lai" đã trở thành “chiếc neo” tâm linh vững chắc, tạo nên sự bền bỉ kỳ diệu cho lưu dân.

Tọa đàm cũng đặt ra một câu hỏi so sánh đầy gợi mở: Vì sao đồng bằng sông Hồng có lịch sử ngàn năm văn hiến lại không sinh ra các tôn giáo nội sinh mới như đồng bằng sông Cửu Long?
Lý giải điều này, TS. Chương nhận định: Châu thổ sông Bắc Bộ vốn có hệ sinh thái và lịch sử tôn giáo khác biệt. Miền Bắc chịu ảnh hưởng sâu đậm của cấu trúc Tam giáo đồng nguyên (Nho - Phật - Đạo), nơi các thiền phái lớn như Vô Ngôn Thông, Trúc Lâm Yên Tử cùng “cái nôi” Phật giáo Luy Lâu đã tạo nên những cột trụ văn hóa vững chắc khó lay chuyển.
Trong khi đó, miền Tây Nam Bộ là một vùng đất mở, nơi tiếp xúc của nhiều luồng lưu dân và các nền văn hóa đa dạng. Đặc tính sinh thái mở ấy đã hun đúc nên hiện tượng đồng hóa tín ngưỡng. Tại vùng biên viễn, ranh giới giữa Đạo giáo và Phật giáo dường như bị xóa nhòa. Người dân có thể kính bái cả các vị thần bảo hộ bản địa như Neak Ta, Thành hoàng, cầu xin sự chở che từ Mẹ Nam Hải, Bà Thiên Hậu, Bà Chúa Xứ hay Ông Bổn trong những chuyến mưu sinh xa bờ.
Tại Trà Vinh - nơi có đến 140 ngôi chùa Phật giáo Nam tông của đồng bào Khmer, các thiết chế tôn giáo này cùng tồn tại hòa thuận, gắn kết bền chặt bên cạnh chùa chiền Bắc tông của người Kinh và đền miếu của người Hoa.
Tinh thần “tứ hải giai huynh đệ” hào sảng và cởi mở biến miền Tây thành một không gian đa văn hóa độc đáo, nơi các tôn giáo nâng đỡ con người mà không hề có xung đột hay kỳ thị.
Thách thức thời hiện đại và sứ mệnh đạo đức sinh thái xuyên biên giới
Tuy nhiên, bức tranh tôn giáo khu vực sông Mê Kông hiện nay đang đứng trước những thử thách mới. TS. Chương thẳng thắn nhìn nhận nỗi trăn trở khi nhiều lễ hội tôn giáo nội sinh đang có chiều hướng thiên về lễ bái hình thức, tổ chức ăn uống chay miễn phí quy mô lớn nhưng thiếu sự thực hành cốt lõi về "học Phật tu nhân, báo tứ trọng ân", thậm chí để lại gánh nặng rác thải ô nhiễm môi trường.
Bên cạnh đó, câu hỏi về việc làm sao để các giáo lý truyền thống này tiếp cận được thế hệ trẻ Gen Z và thích ứng với những biến chuyển xã hội đương đại cũng là “bài toán” lớn đang đặt ra cho các vị chức sắc và đạo hữu.
Để hóa giải những nghịch lý ấy, tinh thần Phật giáo nhập thế cần được làm mới bằng việc gắn kết đức tin với trách nhiệm môi trường. Liên tưởng hình ảnh những nhà sư tại Campuchia cùng cộng đồng xắn tay áo trồng hàng ngàn cây rừng để cân bằng sinh thái, TS. Chương nhận định: Tại Nam Bộ, triết lý Tứ Ân Hiếu Nghĩa - trong đó có ân đất nước, ân vạn loại chúng sinh - hoàn toàn có thể trở thành nền tảng đạo đức để thúc đẩy lối sống "thuận thiên", bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên đang bị đe dọa nghiêm trọng bởi biến đổi khí hậu.

Đặc biệt, ở tầm nhìn khu vực, TS. Chương đề xuất một sáng kiến giàu cảm hứng: Đưa triết lý Phật giáo trở thành mẫu số chung cho ngoại giao sinh thái xuyên biên giới.
Từ bài học 6 quốc gia châu Âu cùng ký hiệp ước quản lý dòng sông Rhine, TS. Chương nhấn mạnh rằng cả 6 quốc gia ven sông Mê Kông đều chia sẻ chung một nền tảng văn hóa và đạo đức Phật giáo sâu sắc.
"Cùng chung một dòng nước và cùng có chung mẫu số Phật giáo, các quốc gia hoàn toàn có thể ngồi lại với nhau dựa trên tinh thần từ bi, hòa hợp để xây dựng một quy tắc ứng xử và tiến tới một Công ước bảo vệ nguồn nước xuyên biên giới", TS. Chương đề xuất.
Khi tinh thần tôn giáo vượt ra khỏi khuôn viên tự viện để trở thành ý thức gìn giữ dòng nước chung, đó chính là lúc "tinh thần Mê Kông" phát huy trọn vẹn sức mạnh cứu độ nhân sinh trong thời đại mới.
