Triều Nguyễn: Văn thư lưu trữ được quan tâm xây dựng quy củ

Triều Nguyễn từ Gia Long, Minh Mệnh, Thiệu Trị đến Tự Đức chú trọng phát triển chế độ quân chủ tập quyền cho nên vấn đề văn thư lưu trữ cũng được quan tâm xây dựng quy củ.

Châu bản triều Nguyễn là tập hợp các văn bản hành chính của triều Nguyễn (từ 1802 đến 1945 là thời kỳ vua Nguyễn đóng đô tại Huế). Đây là khối tài liệu hành chính duy nhất còn lưu giữ được với nội dung bao quát gần như toàn bộ lịch sử Việt Nam giai đoạn thế kỷ XIX và nửa đầu thế kỷ XX trên các lĩnh vực chính trị, ngoại giao, quân sự, kinh tế, văn hóa, giáo dục…

Châu bản triều Nguyễn là các bản tấu sớ, sắc, dụ, chiếu, chỉ, tờ trình, sổ sách kê khai, văn bản ngoại giao được vua ngự lãm hoặc ngự phê. Trước khi ngự phê, vua tham khảo Phiếu nghĩ của Nội Các, Lục Bộ sau đó cho ý kiến mệnh lệnh. Những lời phê của vua thường được gọi là Châu phê. Văn bản có Châu phê thì gọi là Châu bản. Châu phê tượng trưng cho quyền lực tối cao trong nước nên những văn bản đã có Châu phê thì không được sửa chữa.

Với những giá trị nổi bật đáp ứng các tiêu chí về nội dung và hình thức như tính độc đáo, xác thực, tầm ảnh hưởng khu vực và quốc tế, năm 2014, Châu bản triều Nguyễn đã được UNESCO công nhận là di sản tư liệu thuộc Chương trình Ký ức thế giới khu vực châu Á – Thái Bình Dương.

Triều Nguyễn từ Gia Long, Minh Mệnh, Thiệu Trị đến Tự Đức chú trọng phát triển chế độ quân chủ tập quyền cho nên vấn đề văn thư lưu trữ cũng được quan tâm xây dựng quy củ. Triều đình đặt ra văn phòng chuyên lưu giữ Châu bản và các loại văn thư của triều đình là Viện Thị Hàn, Viện Nội Hàn (triều Gia Long 1802 - 1819). Đến triều Minh Mệnh, tổ chức quản lý văn thư Châu bản là phòng Văn Thư. Năm Minh Mệnh thứ 10 (1819) phòng Văn Thư đổi thành Nội Các, chia 4 Tào, mỗi Tào có chức trách riêng. Trong các vương triều thời Nguyễn, có thể nói triều Minh Mệnh lưu trữ bảo quản các văn bản hành chính hoàn chỉnh, quy mô nhất.

{keywords}
Bút phê của Hoàng đế Khải Định (mực đỏ) ở bản tấu thiết triều chính sự năm 1917.

Căn cứ theo thẩm quyền ban hành, qua Châu bản triều Nguyễn, có thể chia thành các loại hình văn bản hành chính như sau:

Văn bản thuộc thẩm quyền ban hành của hoàng đế

Các loại hình văn bản thuộc thẩm quyền ban hành của hoàng đế bao gồm các loại văn bản như: chiếu, chỉ, dụ, chế, sắc.

Những văn bản này dùng vào trong trường hợp ban bố với toàn dân chủ trương, quyết sách hoặc quan điểm của nhà vua về một vấn đề quan trọng liên quan đến việc trị nước, đến vận mệnh quốc gia; giải quyết những vấn đề thường nhật trong hoạt động quản lý hoặc chuẩn y lời tâu trình của cấp dưới hoặc để ban tước, định phẩm hàm cho quan lại, phong tước vị cho thần linh...; khuyên bảo, răn dạy thần dân, ra lệnh thi hành hoặc đề ra các quy định mang tính pháp quy.

Văn bản thuộc thẩm quyền ban hành của Hội đồng Đình thần

Các loại hình văn bản thuộc thẩm quyền ban hành của Hội đồng Đình thần như: Công đồng truyền, Công đồng sai, Công đồng phó, Công đồng di, Công đồng khâm chỉ khiến.

Trên cơ sở ý chí hoặc mệnh lệnh của nhà vua, Hội đồng Đình thần (còn gọi là Công đồng) gửi công văn đến các cơ quan trung ương và địa phương.

Dưới thời Vua Gia Long, các loại công văn đó của Công đồng được sử dụng phổ biến. Sang thời Vua Minh Mệnh, do những cải cách bộ máy nhà nước, Hội đồng Đình thần không còn được duy trì và hoạt động nên các loại công văn này chỉ còn lại rất ít và sau đó không còn nữa.

Văn bản thuộc thẩm quyền ban hành của triều thần, quan lại ở trung ương và địa phương

Các loại văn bản như tấu, phiến, phúc...do các nha môn và thần dân sử dụng để tâu bày lên vua các vấn đề sự việc, nêu kiến nghị để vua xem xét, phê duyệt; Các loại văn bản như truyền thị... của các quan, đình thần thông báo mệnh lệnh hoặc các quyết định từ trung ương đến các quan văn võ lớn nhỏ trong kinh ngoài tỉnh; Các loại văn bản như tư di, tư trình, trát... do các quan lại ở trung ương và địa phương gửi cho các cơ quan, chức quan ngang hàng, ngang cấp để trao đổi công việc; Ngoài ra, các loại văn bản như thân, kê, khải... được sử dụng phổ biến thời Vua Gia Long và Vua Minh Mệnh.

Bàn về giá trị, nét đặc sắc của các loại hình văn bản hành chính triều Nguyễn, Giám đốc Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế Phan Thanh Hải nhận định: “Các loại văn bản hành chính của triều Nguyễn được ngự phê bằng bút pháp tinh hoa, nét chữ rất đa dạng và được đóng dấu bởi hệ thống ấn triện phong phú”. Đây thực sự là những thông tin hữu ích cho những người làm công tác nghiên cứu (đặc biệt là chuyên ngành văn bản học) và công chúng quan tâm đến hệ thống văn bản hành chính nhà nước triều Nguyễn - triều đại quân chủ cuối cùng tại Việt Nam.

Doãn Hợp

Ảnh: Thảo Hiền

tin nổi bật

Cuộc đại khẩn hoang dưới sự chỉ huy của Doanh điền sứ Nguyễn Công Trứ

Dưới sự tổ chức và chỉ huy của Doanh điền sứ Nguyễn Công Trứ, cuộc khẩn hoang quy mô lớn ở bãi Tiền Châu được tiến hành, đánh dấu bước phát triển nhảy vọt trong lịch sử khai hoang ở Việt Nam.

Tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của LHQ góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế

Năm 2021 đánh dấu nhiều kết quả nổi bật của Việt Nam khi tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc, đồng thời Việt Nam cũng chính thức kết thúc nhiệm kỳ Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an LHQ vào ngày 31/12.

Xây dựng quân đội “tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại”

Xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc để năm 2030 xây dựng Quân đội hiện đại là chủ trương lớn, được tính toán cẩn trọng, có tính khả thi cao ở thời điểm công cuộc đổi mới đã đạt được những thành tựu lớn.

Bảo vệ tổ quốc từ sớm, từ xa: Việt Nam năng động và hiệu quả tại diễn đàn LHQ

Việt Nam đã đảm đương xuất sắc vai trò ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an nhiệm kỳ 2020-2021 với nhiều sáng kiến, đóng góp thiết thực cho các vấn đề toàn cầu.

Nâng cao sức mạnh chiến đấu của Quân đội từ tác động của Cách mạng Công nghiệp 4.0

Trong tình hình hiện nay, chúng ta cần phải có một chiến lược xây dựng quân đội phù hợp với điều kiện kinh tế của đất nước, tức là phải “từng bước hiện đại” với bước đi và cách làm vững chắc.

“Tổ quốc bên bờ sóng”, “Đất nước nhìn từ biển” góp phần lan tỏa ý thức chủ quyền lãnh thổ

Các cuộc thi ảnh về đề tài biển, đảo quê hương năm 2021 với tên gọi “Tổ quốc bên bờ sóng”, “Đất nước nhìn từ biển” đã góp phần lan tỏa ý thức, trách nhiệm về độc lập, chủ quyền lãnh thổ quốc gia. 

Quảng Trạch: Xây dựng cuộc sống “Tốt đời, đẹp đạo” trong quần chúng tín đồ, chức sắc, nhà tu hành

Tại Quảng Trạch, Quảng Bình, các cơ quan, đơn vị, địa phương tiếp tục đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, xây dựng cuộc sống “Tốt đời, đẹp đạo” trong quần chúng tín đồ, chức sắc, nhà tu hành.

Bài học lớn từ Quốc hội khóa 1

75 năm kể từ sau cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên, khi người dân tự tay cầm lá phiếu bầu ra Quốc hội khóa I của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, đến nay, hoạt động Quốc hội đang ngày càng công khai và dân chủ hơn.

Nắm vững chính sách về tín ngưỡng, tôn giáo để làm tốt công tác tôn giáo

Cần nắm vững chính sách về tín ngưỡng, tôn giáo, đổi mới nhận thức về tín ngưỡng, tôn giáo, có kiến thức nhất định và sự hiểu biết về lịch sử, giáo lý, giáo luật, lễ nghi, phong tục, tập quán của các tôn giáo.

Hơn 10 năm chung tay xây dựng nông thôn mới nâng cao, bền vững

Sau gần 10 năm (2010 – 2019) triển khai Chương trình mục tiêu Quốc gia (MTQG) xây dựng nông thôn mới, diện mạo nông nghiệp, nông thôn Hải Phòng có bước phát triển vượt bậc.

Sau hơn 10 năm chung tay nỗ lực, công tác giảm nghèo đạt nhiều kết quả tích cực

Việt Nam đã chuyển đổi phương pháp tiếp cận đo lường nghèo từ đơn chiều sang đa chiều, với mục tiêu không chỉ bảo đảm thu nhập tối thiểu mà còn hỗ trợ để cải thiện mức độ tiếp cận đối với các dịch vụ xã hội cơ bản.

“Lời thề quyết tử”

Đỉnh cao của ý chí chống giặc ngoại xâm để giành độc lập, tự do, hạnh phúc của dân tộc là “Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”, “Không có gì quý hơn độc lập tự do”

Thực hiện tuyên truyền hiệu quả chính sách dân tộc, tôn giáo

Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm đến các chính sách dân tộc, hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng và ban hành những chủ trương, chính sách nhằm mục đích đoàn kết tôn giáo và hòa hợp dân tộc.

Phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Hơn 90 năm qua, từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta luôn kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp đó. Đại đoàn kết toàn dân tộc là một nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam.

Can thiệp giảm tử vong trẻ em dưới 5 tuổi: Ưu tiên khu vực miền núi khó khăn, đồng bào DTTS

Chương trình được triển khai trên quy mô toàn quốc, thực hiện theo lộ trình, phù hợp với các Chiến lược, Chính sách đã ban hành... Ưu tiên tập trung khu vực miền núi khó khăn, đồng bào dân tộc thiểu số.