LTS: Sau bước chuyển nhanh từ thuế khoán sang cơ chế kê khai và hóa đơn điện tử, chính sách thuế đối với hộ kinh doanh đang đứng trước nhu cầu điều chỉnh để phù hợp hơn với thực tế vận hành của một khu vực rất đặc thù. Tuần Việt Nam đăng tải mạch bài tiếp cận vấn đề từ ba góc độ: Chi phí tuân thủ ở cấp hộ kinh doanh, cách vận hành của hệ thống quản lý và những kiến nghị thiết kế chính sách hiện hành.

Bài 1: Hộ kinh doanh và bài toán chi phí tuân thủ luật thuế

Bài 2: Hệ thống thuế có nên xử lý hàng chục tỷ giao dịch mỗi năm?

Hiện nay, ngưỡng 500 triệu đồng doanh thu mỗi năm được sử dụng để phân loại và quyết định việc chuyển sang kê khai đầy đủ. Vấn đề là ngưỡng doanh thu này có công bằng vì doanh thu, xét cho cùng, chỉ là dòng tiền đi qua, không phải là phần thu nhập mà người kinh doanh thực sự giữ lại.

Trước hết, theo Luật thuế Thu nhập cá nhân, mức giảm trừ gia cảnh hiện nay, một người có thu nhập khoảng 15,5 triệu đồng mỗi tháng, tương đương khoảng 186 triệu đồng mỗi năm, đã bắt đầu chịu thuế thu nhập cá nhân.

Vậy một hộ kinh doanh cũng sẽ phải chịu nộp thuế nếu như có thu nhập (lợi nhuận tức là sau khi doanh thu trừ chi phí) khoảng 15-17 triệu/ tháng hay 180 – 200 triệu/tháng.

Với giả định biên lợi nhuận của hộ kinh doanh là 10%, để đạt được mức lợi nhuận này, hộ kinh doanh có thể phải đạt mức doanh thu 1,8 – 2 tỷ đồng/năm.

Tất nhiên, với ngành có lợi nhuận biên thấp hơn thì có thể mức này cao hơn, và ngược lại, ngành có lợi nhuận biên cao hơn thì mức doanh thu có thể thấp hơn.

Pho co.jpg
Vấn đề không nằm ở việc thu nhiều hay ít, mà là thu theo cách nào để chi phí tuân thủ và chi phí quản lý không trở thành gánh nặng lớn hơn chính số thu. Ảnh: Thạch Thảo

Theo TS Lê Duy Bình, tổng số lao động trong khu vực hộ kinh doanh chỉ là 8 triệu lao động và có 5,2 triệu hộ. Vì thế, một hộ kinh doanh chỉ có xấp xỉ 1,5 lao động.

Như vậy, xét về bản chất, hộ kinh doanh bản chất là kinh doanh cá thể và cá nhân kinh doanh. Và cần coi họ như cá nhân kinh doanh vì trong phần lớn mỗi hộ kinh doanh chỉ là một người làm chủ.

Nếu họ là cá nhân kinh doanh thì thuế đối với họ cũng nên có gì đó tương đồng với thuế thu nhập cá nhân.

Điều đó có nghĩa là, với mức doanh thu trên 500 triệu đồng/năm một bộ phận không nhỏ các hộ kinh doanh có thu nhập không cao hơn ngưỡng chịu thuế thu nhập cá nhân, nhưng vẫn bị đặt vào một cơ chế quản lý và nghĩa vụ thuế cao hơn, chỉ vì vượt qua một ngưỡng doanh thu mang tính kỹ thuật.

Khi thước đo đã lệch, chi phí phát sinh phía sau gần như là điều tất yếu.

Ở cấp hộ kinh doanh, chi phí tuân thủ phổ biến 40–90 triệu đồng/hộ mỗi năm, trong nhiều trường hợp đã chiếm một phần lớn thu nhập, thậm chí tiệm cận hoặc vượt qua chính mức 186 triệu đồng mỗi năm – ngưỡng bắt đầu phải nộp thuế thu nhập cá nhân.

Ở phía hệ thống, như bài Hệ thống thuế có nên xử lý hàng chục tỷ giao dịch mỗi năm? đã chỉ ra, để vận hành cơ chế này, mỗi 10 đồng thu được, có thể phải chi từ 2 đến 6 đồng cho chi phí xử lý và vận hành.

Khi cả hai phía cùng trở nên tốn kém, vấn đề không còn là từng khâu riêng lẻ mà là toàn bộ thiết kế.

Trong một cấu trúc như vậy, tuân thủ không còn là lựa chọn an toàn. Làm đúng chưa chắc đã đúng, bởi ngay cả khi kê khai đầy đủ, kết quả vẫn có thể không phản ánh đúng thu nhập thực tế.

Vì vậy, câu hỏi đặt ra không còn là siết chặt thêm ở đâu, mà là có cần thiết phải thiết kế lại từ đầu hay không.

Một hướng đi hợp lý hơn có thể là quay lại nguyên tắc cơ bản của hệ thống thuế: Tính thuế dựa trên thu nhập.

Với hộ kinh doanh, điều này có thể được thực hiện thông qua một cơ chế thuế thu nhập giản lược, như thông lệ của các quốc gia trên thế giới, trong đó nghĩa vụ thuế được xác định theo ước tính hợp lý thay vì yêu cầu kê khai chi tiết từng giao dịch.

Cùng với đó, ngưỡng doanh thu cần được điều chỉnh theo hướng phản ánh khả năng tạo thu nhập thay vì áp dụng một mức cứng cho toàn bộ khu vực.

Nếu lấy chính mức thu nhập 186 triệu đồng/năm làm mốc, một cách phân tầng hợp lý hơn có thể hình dung: Doanh thu từ 1-3 tỷ đồng/năm áp dụng cơ chế thuế thu nhập giản lược; nhóm lớn hơn mới cần kê khai đầy đủ; và nhóm dưới 1 tỷ đồng/năm thì không áp dụng thuế thu nhập giản lược.

Thay vì dàn trải nguồn lực, hệ thống có thể tập trung vào những nhóm quy mô lớn và rủi ro cao – nơi mỗi đồng chi phí quản lý bỏ ra mang lại giá trị thực sự.

Theo hướng đó, đề xuất của đại biểu Nguyễn Văn Thân về việc áp dụng một cơ chế thuế đơn giản hơn cho nhóm hộ kinh doanh từ 500 triệu đến 5 tỷ đồng mỗi năm không chỉ là một giải pháp kỹ thuật, mà là một gợi ý về cách thiết kế lại chính sách.

Vấn đề không nằm ở việc thu nhiều hay ít, mà là thu theo cách nào để chi phí tuân thủ và chi phí quản lý không trở thành gánh nặng lớn hơn chính số thu.

Cuối cùng, điều cần nhìn thẳng có lẽ không nằm ở người kinh doanh.

Khu vực hộ kinh doanh hiện chiếm khoảng 30% GDP, tạo việc làm cho 8 triệu lao động, và trong nhiều thời điểm, chính là “tấm đệm” hấp thụ các cú sốc của nền kinh tế. Đây là một cấu trúc rất đặc thù của Việt Nam, nơi phần lớn hoạt động kinh tế vẫn vận hành dựa trên những mô hình nhỏ, linh hoạt và ít chính thức hơn so với nhiều nền kinh tế khác kể từ trước Đổi mới.

Chính sách thuế và nhịp buôn bán đời thườngNhững quán ăn nhỏ, cửa hàng tạp hóa hay sạp hàng ngoài chợ đang tạo việc làm cho hàng chục triệu người, vì thế cần những chính sách được thiết kế gần với nhịp sống buôn bán hằng ngày.