
Buổi sáng sớm ở một khu chợ dân sinh Hà Nội thường bắt đầu từ rất sớm. Tiếng dao chặt xương lách cách, tiếng người bán gọi khách, tiếng cân bật lên tách tách. Người mua ghé vội, trả tiền rồi đi làm. Mọi thứ diễn ra nhanh đến mức gần như theo phản xạ.
Ở chợ Nghĩa Tân, một tiểu thương bán hải sản kể rằng mỗi buổi sáng bà bán khoảng 100 kg hàng cho chừng 70–100 khách trong vài giờ từ 6 đến 9 giờ. Người bán vừa cân, vừa sơ chế, vừa tính tiền. Khách đứng chờ phía trước, người này vừa đi thì người khác đã bước vào.
“Nếu vừa bán vừa xuất hóa đơn cho từng khách như siêu thị thì chắc khách bỏ đi hết,” bà nói. Thuê thêm người chỉ để nhập dữ liệu và xuất hóa đơn thì tiền công lại cao hơn lợi nhuận của một sạp hàng nhỏ.
Câu chuyện này liên quan đến một vấn đề: Làm thế nào để các quy định quản lý vừa bảo đảm minh bạch, vừa phù hợp với nhịp sống rất nhanh của hoạt động buôn bán nhỏ.
Gần đây, Bộ Tài chính đang lấy ý kiến về dự thảo nghị định quy định về hóa đơn điện tử và chứng từ điện tử. Một đề xuất đáng chú ý là cho phép các hộ kinh doanh có doanh thu từ 3 tỉ đồng mỗi năm trở xuống được lập hóa đơn điện tử tổng hợp vào cuối ngày đối với những giao dịch nhỏ khi người mua không có nhu cầu lấy hóa đơn.
Theo dự thảo, các giao dịch dưới 50.000 đồng mỗi lần có thể được tổng hợp lại và cuối ngày xuất một hóa đơn chung. Người bán vẫn phải lưu bảng kê chi tiết để cung cấp khi cơ quan quản lý yêu cầu.
Ý tưởng này nhằm giảm bớt áp lực thủ tục cho những hoạt động buôn bán nhỏ lẻ diễn ra với tần suất cao trong ngày.
Tuy nhiên, còn một số ý kiến cho rằng mức 50.000 đồng vẫn khá thấp so với thực tế buôn bán. Con số ấy chỉ tương đương một bát phở hay vài lạng thịt ngoài chợ. Trong khi đó, không ít giao dịch bán lẻ hằng ngày đã vượt mức này từ lâu.
Một số chuyên gia đề xuất nâng ngưỡng lên khoảng 200.000 đồng, tương tự quy định trước đây trong Thông tư 39/2014. Khi đó, người bán chỉ cần lập bảng kê bán lẻ và cuối ngày xuất một hóa đơn tổng. Cách làm này đơn giản hơn và gần với nhịp buôn bán thực tế của các cửa hàng nhỏ.

Khi những quy định kỹ thuật chưa sát với nhịp buôn bán đời thường, chính sách dù đúng mục tiêu cũng có thể trở nên khó áp dụng. Câu chuyện hóa đơn vì thế không chỉ là chuyện thủ tục mà là cách thiết kế chính sách cho phù hợp với đời sống kinh tế.
Nếu nhìn rộng hơn, sẽ thấy khu vực kinh tế hộ thực ra có quy mô rất lớn.
Theo Tổng cục Thống kê, năm 2025 lao động phi chính thức chiếm 63,1% tổng số lao động có việc làm. Với lực lượng lao động hơn 52 triệu người, điều đó có nghĩa là khoảng 33 triệu người Việt Nam đang làm việc ngoài khu vực chính thức của nền kinh tế.
Phần lớn trong số họ mưu sinh trong các quán ăn nhỏ, cửa hàng tạp hóa, dịch vụ cá thể hay những hoạt động kinh doanh hộ gia đình. Những công việc ấy hiếm khi xuất hiện trong các báo cáo kinh tế vĩ mô nhưng lại nuôi sống một bộ phận rất lớn của xã hội.
Nếu nhìn kỹ vào cấu trúc của nền kinh tế, sẽ thấy một điều khá thú vị: gần một phần ba GDP của Việt Nam thực ra được tạo ra từ những cửa hàng nhỏ, những quán ăn gia đình và các hoạt động buôn bán cá thể.
Hiện nay, cả nước có khoảng 5 triệu hộ kinh doanh phi nông nghiệp. Chính sách thuế và các quy định liên quan tới khu vực này vì thế không chỉ liên quan tới vài nhóm buôn bán nhỏ mà tác động trực tiếp tới sinh kế của hàng triệu gia đình.
Trong nhiều trường hợp, kinh tế hộ còn đóng vai trò như một “van an toàn” của thị trường lao động. Khi doanh nghiệp gặp khó khăn hoặc kinh tế biến động, nhiều người lao động quay lại buôn bán nhỏ để mưu sinh. Một quán ăn gia đình, một cửa hàng tạp hóa hay một quầy bán đồ ăn sáng đôi khi trở thành nơi bắt đầu lại của những người vừa mất việc.
Nhưng đây cũng là khu vực mong manh nhất.
Theo báo cáo của iPOS (báo cáo Thị trường Kinh doanh ẩm thực tại Việt Nam), chỉ trong nửa đầu năm 2025 đã có hơn 50.000 cửa hàng F&B (ăn uống) đóng cửa, giảm 7,1% so với năm trước. Riêng tại Hà Nội và TP.HCM, số lượng cửa hàng giảm hơn 11%.
Phía sau mỗi cánh cửa đóng lại thường là một gia đình mất nguồn thu và vài lao động mất việc. Với khu vực kinh tế hộ, việc gia nhập thị trường khá dễ dàng nhưng việc rời khỏi thị trường cũng diễn ra rất nhanh khi chi phí tăng hoặc sức mua giảm.
Chính vì vậy, môi trường chính sách dành cho khu vực này trở nên đặc biệt quan trọng.
Những năm gần đây, cơ quan quản lý đã bắt đầu thay đổi cách tiếp cận. Bên cạnh mục tiêu thu ngân sách, nhiều chính sách mới được thiết kế nhằm minh bạch hóa hoạt động kinh doanh và đưa khu vực này dần vào hệ thống quản lý hiện đại hơn.
Máy tính tiền kết nối trực tiếp với cơ quan thuế đã được triển khai tại nhiều nhà hàng, quán ăn và cửa hàng bán lẻ để ghi nhận doanh thu theo thời gian thực. Trong lĩnh vực thương mại điện tử, các sàn bán hàng cũng đã bắt đầu khấu trừ và nộp thuế thay cho người bán.
Những thay đổi đó cho thấy xu hướng quản lý thuế đang chuyển dần sang dựa trên dữ liệu và công nghệ.
Tuy vậy, cùng với những thay đổi đó cũng xuất hiện một tâm lý khá phổ biến trong cộng đồng kinh doanh nhỏ như nhiều hộ muốn giữ quy mô vừa phải hay cố gắng duy trì doanh thu dưới những ngưỡng nhất định.
Đây là một nghịch lý không hiếm gặp trong quá trình cải cách chính sách. Khi chi phí tuân thủ trở nên phức tạp, các hộ kinh doanh có thể chọn cách không mở rộng hoạt động. Khi đó, mục tiêu minh bạch hóa nền kinh tế có thể đạt được nhưng động lực phát triển của khu vực kinh doanh nhỏ – nơi tạo ra hàng chục triệu việc làm lại bị suy giảm.
Trong một nền kinh tế mà khoảng 33 triệu người vẫn đang làm việc phi chính thức, câu chuyện về kinh tế hộ vì thế không chỉ là câu chuyện thu ngân sách.
Đó còn là câu chuyện về việc làm và sinh kế. Một nền kinh tế có thể lớn lên nhờ những dự án hàng tỷ USD hay những khu công nghiệp hiện đại. Nhưng sức sống của nó lại nằm ở những cửa hàng nhỏ vẫn nhộn nhịp mỗi ngày.
Và vì vậy, nếu môi trường chính sách đủ thuận lợi, những cửa hàng ấy sẽ tiếp tục tồn tại và tạo việc làm cho hàng chục triệu người.
