
|
LTS: Chiều 25/3/2026, tại Trụ sở Trung ương Đảng, Tổng Bí thư Tô Lâm phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV thể hiện thông điệp hành động mạnh mẽ, tầm nhìn chiến lược và quyết tâm chính trị cao trong việc dẫn dắt đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới. Trên nền tảng “Bốn kiên định” về chính trị, tư tưởng, mục tiêu tăng trưởng “hai con số” được đặt ra cùng với yêu cầu bảo đảm chất lượng, tính bền vững và công bằng xã hội, đồng thời thúc đẩy cải cách mạnh mẽ mô hình chính quyền địa phương theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả. Bài phát biểu không chỉ xác lập các nguyên tắc phát triển, mà còn cho thấy một quyết tâm chính trị rất rõ: chuyển từ mục tiêu tăng trưởng sang một cách thức tăng trưởng có kỷ luật, có giới hạn và có trách nhiệm với tương lai. VietNamNet xin trân trọng giới thiệu các bài viết hưởng ứng. |
Ký ức của vị cựu tư lệnh ngành kế hoạch và đầu tư
Ở tuổi ngoài 80, nguyên Bộ trưởng Kế hoạch và Đầu tư Võ Hồng Phúc vẫn dành sự quan tâm đặc biệt đến những vấn đề thời sự của đất nước.
Nghiền ngẫm những kết luận tại Hội nghị Trung ương 2 – hội nghị mang tính chất đặt "nền móng" cho cả nhiệm kỳ 2026-2030 về phát triển kinh tế – ông chia sẻ sự tâm đắc khi yêu cầu ổn định kinh tế vĩ mô đã được chú trọng đúng mức.
Phát biểu bế mạc, Tổng Bí thư Tô Lâm yêu cầu quán triệt bốn nguyên tắc: Tăng trưởng phải thực chất, không đánh đổi bền vững; giữ vững ổn định vĩ mô, kiểm soát lạm phát; sử dụng hiệu quả nguồn lực, ưu tiên dự án trọng điểm và hợp tác công – tư; đồng thời bảo đảm tăng trưởng gắn với đời sống và công bằng xã hội.
Đặc biệt, Tổng Bí thư nhấn mạnh: “Kiên định nguyên tắc ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, đảm bảo các cân đối lớn. Đây là điều kiện tiên quyết, trụ cột quyết định khả năng vận hành linh hoạt, an toàn và hiệu quả của toàn bộ nền kinh tế. Việc điều hành chính sách tài khóa, tiền tệ và các chính sách vĩ mô khác phải theo hướng chủ động, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ, vừa hỗ trợ tăng trưởng hợp lý, vừa củng cố niềm tin thị trường, ổn định kỳ vọng và nâng cao sức chống chịu của nền kinh tế trước các cú sốc bên ngoài”.
Lắng nghe những định hướng ấy, ông Võ Hồng Phúc khẳng định: Đó là lựa chọn rất đúng đắn để chúng ta phát triển nhanh và bền vững.

Có lẽ, ông Phúc là một trong những lãnh đạo nhiệm kỳ 2006-2010 còn giữ những ký ức sống động và thấm thía nhất về cái giá của sự đánh đổi giữa ổn định và phát triển.
Trên cương vị Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư, ông đã trực tiếp tham gia lập Nghị quyết 11 Năm 2011, ổi tiếng về ổn định kinh tế vĩ mô sau những giai đoạn phát triển quá nóng trước đó.
Trước đó, ngày 09/01/2011, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 02/NQ-CP về các giải pháp chủ yếu điều hành kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước. Tuy nhiên, chỉ hơn 1 tháng sau đó, ngày 24/2/2011, Chính phủ đã phải ban hành Nghị quyết 11 thay thế, bẻ ngoặt quỹ đạo tăng trưởng.
Lý do là bối cảnh quốc tế khi đó biến động dữ dội: lạm phát tăng cao, giá dầu thô và nguyên vật liệu đầu vào sản xuất cùng giá lương thực thế giới không ngừng leo thang. Ở trong nước, áp lực từ việc điều chỉnh giá điện, xăng dầu cùng với hệ quả của chính sách tiền tệ và tài khóa nới lỏng trước đó đã tạo nên những áp lực khổng lồ.
“Tình hình trên đây đã làm giá cả tăng cao, tăng nguy cơ mất ổn định kinh tế vĩ mô của nước ta. Vì vậy, tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội là mục tiêu, nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách” – những dòng chữ trong Nghị quyết 11 năm ấy như vẫn còn nguyên tính thời sự khi đặt cạnh những quyết sách của hôm nay.
Những "cú sốc" từ cơn say tăng trưởng nóng
Ông Phúc nhớ lại, nhiệm kỳ 2006–2010 là giai đoạn kinh tế phát triển cực nóng. Ngay từ đầu nhiệm kỳ, Chính phủ đã đẩy mạnh mở rộng đầu tư, đặc biệt là trong lĩnh vực bất động sản. Đến năm 2008, khi Hà Nội chính thức mở rộng địa giới hành chính, một làn sóng đầu tư địa ốc bùng lên mạnh mẽ chưa từng thấy, kéo theo mức tăng trưởng tín dụng cao ngất ngưỡng.
Đó cũng là thời điểm Việt Nam vừa gia nhập WTO, mang theo sự hưng phấn và những kỳ vọng khổng lồ trong nhân dân. Thị trường chứng khoán bùng nổ với tâm thế "cứ mua là thắng", các dự án đầu tư công lẫn tư được công bố rầm rộ. Trong bầu không khí lạc quan bao trùm, mọi lời cảnh báo dường như đều bị lu mờ. Dòng tiền đổ vào ào ạt, các doanh nghiệp nhà nước đua nhau bành trướng sang các lĩnh vực ngoài ngành như ngân hàng, bất động sản, viễn thông, khách sạn... Tất cả diễn ra trên nền tảng của một chính sách tiền tệ và tài khóa được nới lỏng quá mức.
Tại phiên chất vấn trước Quốc hội vào tháng 5/2008, Bộ trưởng Võ Hồng Phúc đã đưa ra một dự báo gây "choáng váng": Lạm phát năm đó có thể lên tới 22%.
Khi lạm phát năm 2007 mới chỉ chạm ngưỡng 12%, con số dự báo của ông Phúc như một tiếng chuông cảnh tỉnh dội vào thực tại bất ổn đang đến gần. Dựa trên báo cáo của Vụ Tổng hợp Kinh tế Quốc dân, Bộ Kế hoạch và Đầu tư – cơ quan có chức năng giám sát, đánh giá tất cả các biến động vĩ mô của nền kinh tế - và những tính toán độc lập từ các chuyên gia, ông chỉ rõ: Tăng trưởng tín dụng năm 2007 đã vọt lên mức 53%, và tổng phương tiện thanh toán tăng tới 46,7% – những con số chưa từng có tiền lệ.

Trước Quốc hội, ông Phúc thẳng thắn phát biểu: “Thủ tướng cũng phải giật mình”. Câu nói này khiến Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng lúc bấy giờ phải "phê" lại một cách hóm hỉnh nhưng đầy sức nặng: “Bộ trưởng nên làm sao để Thủ tướng bớt giật mình đi”.
Thực tế sau đó cho thấy, tăng trưởng tín dụng giai đoạn 2007-2008 đã gấp 3-4 lần mức thông thường, hoàn toàn vượt khỏi tầm kiểm soát. Hậu quả là lạm phát năm 2008 vọt lên gần 20%. Dù thấp hơn đôi chút so với dự báo của ông Phúc, con số này vẫn gây sốc cho toàn xã hội.
Dù vậy, đà tăng trưởng tín dụng vẫn chưa dừng lại, tiếp tục vọt lên 36% vào năm 2009. Đó là chưa kể đến gói kích cầu hơn 8 tỷ USD, trong đó có hơn 1 tỷ USD hỗ trợ lãi suất 0%. Chính sách tài khóa và tiền tệ mở rộng chưa từng có đã kích ngòi cho các dự án đầu tư công nở rộ và các doanh nghiệp nhà nước đầu tư ngoài ngành.
Giai đoạn 2007-2009 trở thành một chương đáng nhớ trong lịch sử kinh tế Việt Nam. Sự mở rộng quá mức đã đẩy nền kinh tế vào vòng xoáy bất ổn nghiêm trọng: lạm phát đạt đỉnh 18,6% vào năm 2011, bong bóng tài sản phình to, và một bộ phận doanh nghiệp chỉ chăm chăm "đánh quả" thay vì tập trung sản xuất bài bản. Những hệ lụy ấy kéo dài trên nhiều mặt và vẫn còn đang được xử lý cho đến tận bây giờ.
Bước ngoặt Nghị quyết 11 và thành quả của sự kiên định
Đứng trước tình thế cấp bách, đầu năm 2011, Chính phủ đã triệu tập một cuộc họp chưa từng có tiền lệ với lãnh đạo tất cả các địa phương và bộ, ngành để tìm kế sách ổn định nền kinh tế. Từ hội nghị mang tính lịch sử này, Nghị quyết 11 đã ra đời vào tháng 2/2011, phát đi một mệnh lệnh cứng rắn: Thực hiện chính sách tiền tệ chặt chẽ, thận trọng; thắt chặt chính sách tài khóa, quyết liệt cắt giảm đầu tư công và giảm bội chi ngân sách nhà nước.
Kể từ dấu mốc đó, tinh thần "ổn định vĩ mô để phát triển" đã trở thành sợi chỉ đỏ xuyên suốt, được quán triệt trong mọi nghị quyết và chỉ đạo chiến lược. Sự nhất quán này thể hiện rõ nét qua các Nghị quyết của Quốc hội và đặc biệt là Nghị quyết 01 của Chính phủ hàng năm, và ổn định kinh tế vĩ mô luôn được đóng dấu "ưu tiên hàng đầu".
Nhờ sự xoay trục chính sách quyết liệt, Việt Nam đã gặt hái được những kết quả tích cực, làm thay đổi diện mạo nền tảng kinh tế quốc gia:
Lạm phát được chế ngự: Từ đỉnh cao 18,6% năm 2011, chỉ số CPI bình quân đã được kéo xuống và duy trì ổn định ở mức khoảng 4%/năm trong suốt giai đoạn 2016-2020.
Kỷ luật ngân sách được siết chặt: Bội chi ngân sách nhà nước giảm đáng kể, từ mức bình quân 5,4% GDP giai đoạn 2011-2015 xuống còn 3,5% GDP giai đoạn 2016-2019 (năm 2020 ghi nhận 4,99% GDP do bối cảnh đặc biệt).
Quản trị nợ công hiệu quả: Dù nợ công từng có lúc chạm mức 63,7% vào năm 2016 do nhu cầu huy động nguồn lực khổng lồ cho hạ tầng, nhưng từ năm 2017, nhờ kiểm soát chặt chẽ việc vay và bảo lãnh Chính phủ, con số này đã giảm dần xuống 55% GDP năm 2019 và 56,8% năm 2020. Đến nay, nợ công đã hoàn toàn nằm trong giới hạn an toàn, góp phần cải thiện mạnh mẽ hệ số tín nhiệm quốc gia.
Sự ổn định vĩ mô và lạm phát thấp không chỉ là những con số thống kê khô khan, mà đã trở thành tiền đề quan trọng nhất để củng cố lòng tin của người dân và cộng đồng doanh nghiệp. Chính "tấm khiên" vĩ mô vững chắc này đã tạo ra sức chống chịu bền bỉ cho nền kinh tế trước những biến động khó lường của thế giới trong những năm sau đó.

Bài học về trận tuyến vĩ mô
Nghị quyết 11 thực sự đã tạo ra một bước ngoặt xoay trục. Thực hiện mệnh lệnh từ Chính phủ, các bộ, ngành và địa phương đồng loạt siết chặt chi tiêu, "phanh" hàng loạt dự án đầu tư dàn trải và kiểm soát chặt chẽ tăng trưởng tín dụng. Nhìn lại con số từ Tổng cục Thống kê, chỉ số CPI đã tăng gần gấp đôi trong giai đoạn 2006-2010 – một minh chứng khắc nghiệt cho cái giá của sự phát triển nóng.
Đến năm 2014, sự ra đời của Tổ điều hành kinh tế vĩ mô gồm bốn bộ chủ chốt đã tạo nên một cơ chế phối hợp chưa từng có. Sự gắn kết giữa quyết tâm chính trị và tư duy chuyên môn đã dần đưa con thuyền kinh tế trở lại quỹ đạo ổn định. Giai đoạn này cũng ghi dấu ấn đậm nét của những "tư lệnh" ngành bản lĩnh và quyết đoán.
Đó là Bộ trưởng Tài chính Đinh Tiến Dũng (2013–2021) với cuộc tái cơ cấu nền tài chính công căn bản, hướng tới sự bền vững tài khóa và nâng cao uy tín quốc tế cho Việt Nam. Đó là Thống đốc Nguyễn Văn Bình (2011–2016), người đã quyết liệt chỉ đạo để ổn định hệ thống ngân hàng, kiềm chế lạm phát và giữ vững niềm tin vào đồng Việt Nam sau cơn khủng hoảng 2008–2011, bất chấp những chính sách đầy tranh cãi thời điểm đó.
Không thể không nhắc đến Bộ trưởng Kế hoạch và Đầu tư Bùi Quang Vinh (2011–2016) – người mang tư duy cải cách thể chế mạnh mẽ. Ông là tác giả của Chỉ thị 1792, tiền thân của Luật Đầu tư công, công cụ hữu hiệu giúp "siết dây cương" luồng vốn đầu tư công vốn đang như con ngựa bất kham ở khắp các tỉnh thành. Bên cạnh đó là Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải, vị "kiến trúc sư trưởng" đã bền bỉ đảm bảo an ninh năng lượng và thúc đẩy các dự án hạ tầng quy mô lớn trong giai đoạn bứt phá công nghiệp hóa. Và còn nhiều gương mặt khác, những người đã cùng nhau viết nên chương mới cho kinh tế vĩ mô.
Thành quả đã hiện rõ qua các con số của giai đoạn 2016–2020: CPI bình quân duy trì quanh mức 4%/năm, bội chi ngân sách giảm về 3,5% GDP, và nợ công từ ngưỡng nguy hiểm 63,7% GDP năm 2016 đã co lại còn 55–56% GDP. Tinh thần “ổn định vĩ mô để phát triển” từ đó trở thành kim chỉ nam xuyên suốt trong các văn kiện của ba kỳ Đại hội Đảng gần đây.
Nhìn lại cú “giật mình” của Thủ tướng năm 2008 và cuộc họp đặc biệt đầu năm 2011, chúng ta càng thấm thía một bài học đắt giá: Khi lạm phát bùng phát, hậu quả không chỉ nằm ở vài phần trăm chỉ số giá tiêu dùng tăng thêm. Đó là sự trả giá bằng cả một thập kỷ bất ổn, là nguy cơ hàng triệu người rơi lại phía sau và những thành quả phát triển bị xói mòn.
Câu chuyện về Nghị quyết 11, vì thế, không chỉ là một chương cũ trong lịch sử kinh tế. Đó là lời nhắc nhở vĩnh cửu rằng ổn định vĩ mô là một trận tuyến phải luôn được giữ vững. Bởi suy cho cùng, có ổn định mới có phát triển bền vững.
Tăng trưởng thực chất & Không đánh đổi chất lượng lấy tốc độ
Những bài học từ quá khứ đang trở nên thời sự hơn bao giờ hết khi nhìn vào những con số mới nhất. Tại cuộc họp báo triển khai nhiệm vụ năm 2026 của Ngân hàng Nhà nước, một dữ liệu đáng chú ý đã được công bố: Tính đến cuối năm 2025, tín dụng toàn hệ thống đã chạm mốc 18,2 triệu tỷ đồng, tăng trưởng gần 19% – mức cao nhất trong nhiều năm trở lại đây.
Hệ số tín dụng/GDP theo đó cũng đẩy lên khoảng 146%, xác lập mức cao kỷ lục đối với các quốc gia có thu nhập trung bình thấp như Việt Nam. Đằng sau con số tăng trưởng ấn tượng ấy là những nỗi lo canh cánh về tính bền vững.
Đại diện Ngân hàng Nhà nước thẳng thắn chỉ ra một đặc thù đầy rủi ro: 80% vốn huy động là ngắn hạn, nhưng có tới 50% dư nợ là cho vay trung và dài hạn. Sự lệch pha về kỳ hạn này không chỉ là bài toán quản trị mà còn là "ngòi nổ" tiềm ẩn cho an toàn hệ thống nếu không có các thị trường vốn khác chia lửa.
Bối cảnh đó càng làm sáng tỏ vì sao tại Hội nghị Trung ương 2, Tổng Bí thư Tô Lâm lại đặt yêu cầu cao nhất vào cụm từ "Tăng trưởng thực chất".
Thông điệp của Tổng Bí thư rất quyết liệt: Không đánh đổi chất lượng, tính bền vững lấy tốc độ tăng trưởng đơn thuần. Mỗi phần trăm tăng trưởng GDP phải chứa đựng hàm lượng tri thức và giá trị gia tăng cao hơn, dựa trên năng suất và sức cạnh tranh thực tế của quốc gia. “Tăng trưởng hôm nay không được làm tổn hại đến nền tảng phát triển của ngày mai... Nếu chỉ chạy theo tốc độ mà xem nhẹ chất lượng, cái giá phải trả sẽ rất đắt” – lời cảnh báo này như một sự tổng kết cô đọng nhất từ những bài học xương máu của hơn một thập kỷ trước.
Đồng tình sâu sắc với định hướng này, nguyên Bộ trưởng Võ Hồng Phúc khẳng định, tăng trưởng cao là cần thiết nhưng tăng trưởng cao bền vững mới là điều kiện sống còn. Nhìn về tương lai, ông cho rằng đất nước đang rất cần một cơ quan tham mưu chiến lược thực thụ – như vai trò mà Bộ Kế hoạch và Đầu tư từng đảm đương – để tính toán những bài toán phát triển phức tạp, đảm bảo con tàu kinh tế Việt Nam tiến nhanh nhưng luôn vững chãi trên nền tảng ổn định vĩ mô.
Bởi lẽ, sau tất cả những thăng trầm, chúng ta hiểu rằng: Ổn định không phải là rào cản của phát triển, mà chính là bệ phóng duy nhất cho phát triển. “Có ổn định mới có phát triển”, ông Phúc nói.



