
Các nhà điều hành muốn kéo giảm chi phí vốn để hỗ trợ doanh nghiệp, kích thích đầu tư và tạo thêm động lực cho mục tiêu tăng trưởng cao, còn các ngân hàng thương mại liên tục tung ra các gói tín dụng ưu đãi và cam kết hạ lãi vay cho nhiều nhóm khách hàng.
Khi LDR bị kéo căng
Nhưng thị trường lại đang phát ra một tín hiệu khác: Tiền trong hệ thống ngân hàng không còn dồi dào như trước, trong khi nhu cầu vốn của nền kinh tế ngày càng lớn hơn.
Theo một đại diện của Ngân hàng Nhà nước, đến cuối tháng 4/2026, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đã vượt 19,4 triệu tỷ đồng, tăng hơn 18% so với cùng kỳ năm trước, còn chênh lệch giữa cho vay và huy động đã lên tới khoảng 2 triệu tỷ đồng.
Theo SSI Research, tỷ lệ cho vay trên huy động (LDR) thực tế hiện đã lên khoảng 112%, vượt xa ngưỡng 85%. Ngay cả nhóm Big4 cũng tiến sát ngưỡng quy định về thanh khoản. Điều đó cho thấy dòng tiền trong hệ thống đang bị kéo căng để đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế.
Tuy nhiên, điều đáng nói là tiền gửi bắt đầu dịch chuyển khỏi ngân hàng. Theo báo cáo tài chính quý I/2026 báo VietNamNet có được, nhiều ngân hàng ghi nhận tiền gửi khách hàng sụt giảm mạnh, trong đó riêng BIDV giảm hơn 80.000 tỷ đồng chỉ sau một quý, dù mặt bằng lãi suất huy động đã nhích lên ở nhiều nơi.
Một trong những lý do của tình trạng trên, theo TS Lê Xuân Nghĩa, liên quan đến niềm tin của các hộ kinh doanh.
Ông giải thích, nhiều hộ kinh doanh hiện có xu hướng giữ tiền mặt hoặc rút tiền khỏi ngân hàng trước những lo ngại về thuế và các rủi ro chính sách. “Chỉ trong 2 tháng đầu năm 2026, lượng tiền bị rút khỏi hệ thống ngân hàng đã tương đương cả năm 2025. Đa số lượng tiền đó của các hộ kinh doanh”, ông nói.

Khi tiền bắt đầu rời khỏi hệ thống, các ngân hàng buộc phải tăng cạnh tranh huy động vốn để giữ thanh khoản, còn khả năng giảm mạnh lãi suất cho vay cũng trở nên khó khăn hơn nhiều.
Khi người dân bắt đầu thấy không chắc chắn về môi trường chính sách hay tương lai đồng tiền mình đang nắm giữ, dòng tiền sẽ đổi hướng rất nhanh. Người ta giữ tiền mặt, giữ vàng hoặc tìm tới các tài sản khác, còn ngân hàng phải giữ lãi suất huy động ở mức đủ hấp dẫn để tránh dòng tiền tiếp tục chảy ra ngoài.
Chính sách tiền tệ đang dần hết dư địa
Trong khi đó, khả năng giảm lãi suất lúc này cũng không còn nhiều vì áp lực tỷ giá và lạm phát vẫn hiện hữu. FED tiếp tục duy trì lãi suất cao, đồng USD mạnh lên, Việt Nam nhập siêu trở lại, còn CPI đã vượt mục tiêu Quốc hội đặt ra cho cả năm.
Vì thế, điều hành chính sách tiền tệ lúc này gần như phải đi trên dây. Một mặt, nếu hạ lãi suất quá mạnh, áp lực tỷ giá và lạm phát có thể quay trở lại. Nhưng mặt khác, nếu giữ lãi suất cao quá lâu, doanh nghiệp sẽ tiếp tục khó khăn, còn sức cầu của nền kinh tế sẽ yếu thêm.
Lãi suất cao thực tế đã bắt đầu tác động tới thị trường bất động sản khi nhiều khoản vay mua nhà sau ưu đãi hiện đã lên mức 15–16%/năm. Nhưng đây không còn chỉ là câu chuyện của thị trường nhà đất, mà phản ánh chi phí vốn của cả nền kinh tế đang ở mức cao.
Vấn đề lớn hơn không nằm ở vài điểm phần trăm lãi suất, mà nằm ở cách nền kinh tế đang sống bằng vốn ngân hàng.
Hiện quy mô tín dụng đã tương đương khoảng 150% GDP, trong khi thị trường trái phiếu doanh nghiệp mới chỉ khoảng 10% GDP và chỉ bằng khoảng 7–8% tổng dư nợ tín dụng ngân hàng.
Ở nhiều nền kinh tế, thị trường vốn sẽ chia sẻ gánh nặng với ngân hàng. Còn ở Việt Nam, cuối cùng chuyện gì liên quan đến vốn cũng quay về ngân hàng.
Từ bất động sản, hạ tầng cho tới sản xuất, tất cả đều chờ vốn tín dụng, trong khi khoảng 80% vốn huy động hiện nay vẫn là vốn ngắn hạn nhưng lại phải cho vay trung và dài hạn.
Nói cách khác, ngân hàng Việt Nam hiện không chỉ làm chức năng ngân hàng. Họ đang phải đóng vai cả thị trường vốn. Sau nhiều năm bơm tín dụng để kéo tăng trưởng, chính sách tiền tệ lúc này dường như đã hết dư địa.
Trong nhiều năm, mỗi khi nền kinh tế gặp khó, giải pháp quen thuộc thường là mở rộng tín dụng, hạ lãi suất và bơm thêm vốn qua hệ thống ngân hàng. Nhưng khi tín dụng đã lên tới khoảng 150% GDP, chênh lệch huy động – cho vay ngày càng lớn, còn dòng tiền gửi bắt đầu dịch chuyển, khả năng nới lỏng tiền tệ mạnh như trước sẽ trở nên khó khăn hơn nhiều.
Có lẽ thời kỳ cứ khó là bơm thêm tín dụng đang dần tới hạn.
Điều này sẽ càng rõ hơn khi Việt Nam bước vào giai đoạn đặt mục tiêu tăng trưởng hai con số. Theo tính toán của Bộ Tài chính, nhu cầu vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2026–2031 ước khoảng 38,5 triệu tỷ đồng, riêng năm 2026 khoảng 5,1 triệu tỷ đồng, trong đó nhu cầu vốn tín dụng dự kiến khoảng 1,8 triệu tỷ đồng.
Điều đó đồng nghĩa áp lực lên lãi suất và hệ thống ngân hàng sẽ còn kéo dài, còn mặt bằng lãi suất giai đoạn 2026–2027 có thể khó quay lại thời kỳ tiền rẻ như trước đây.
Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa Việt Nam không còn cách nào để giảm chi phí vốn cho nền kinh tế.
Vấn đề nằm ở chỗ phải chia bớt gánh nặng vốn khỏi vai ngân hàng.
Muốn giảm áp lực lãi suất bền vững, Việt Nam sẽ phải thúc đẩy mạnh hơn giải ngân đầu tư công, tháo gỡ các dự án tồn đọng để dòng tiền quay trở lại nền kinh tế thực, đồng thời phát triển mạnh hơn thị trường trái phiếu doanh nghiệp và các nguồn vốn dài hạn.
Khi thị trường trái phiếu vận hành minh bạch và lấy lại niềm tin, áp lực vốn trung và dài hạn sẽ không còn dồn quá nhiều lên hệ thống tín dụng như hiện nay.
Ngoài ra, cũng sẽ phải tính tới việc mở rộng khả năng huy động vốn quốc tế và thu hút các dòng vốn ngoại dài hạn để chia sẻ áp lực vốn trong nước, bởi với quy mô nhu cầu vốn hàng chục triệu tỷ đồng trong giai đoạn tới, hệ thống ngân hàng trong nước khó có thể một mình “gánh” toàn bộ nhu cầu tăng trưởng của nền kinh tế.
Có lẽ vì thế, câu chuyện lúc này không còn đơn giản là giảm thêm vài điểm phần trăm lãi suất. Điều quan trọng hơn là làm sao giữ được niềm tin vào tiền đồng và tìm thêm các nguồn vốn ngoài ngân hàng để nền kinh tế không tiếp tục phụ thuộc quá nhiều vào tín dụng.
