Muốn biết phần tăng trưởng còn lại có thể đến từ đâu, có thể nhìn vào công thức quen thuộc GDP = C + I + G + (X - M), trong đó C là tiêu dùng, I là đầu tư, G là chi tiêu Chính phủ, X là xuất khẩu và M là nhập khẩu.

Tuy nhiên, theo số liệu báo cáo tình hình kinh tế – xã hội tháng Tám và 8 tháng năm 2026 của Cục Thống kê, Bộ Tài chính cho thấy một điều: Muốn kéo GDP lên 10%, những phần phải tăng nhanh hơn lại đang chạm vào các giới hạn về giá cả, vốn và nhập khẩu.

Tiêu dùng là một ví dụ.

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tám tháng tăng 13,3%, nhưng sau khi loại trừ yếu tố giá, mức tăng thực chỉ còn 7,6%, gần với mức 7,4% cùng kỳ năm trước.

Với tốc độ ấy, khó trông chờ tiêu dùng một mình kéo nền kinh tế lên mức tăng trưởng hai chữ số, nhất là khi CPI (Chỉ số giá tiêu dùng) bình quân tám tháng đã tăng 4,45% và sức ép giá đang hiện rõ ở thực phẩm, nhà ở, điện nước, nhiên liệu và vật liệu xây dựng.

sieu thi (62).jpg
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tám tháng tăng 13,3%, sau khi loại trừ yếu tố giá, mức tăng thực chỉ còn 7,6% gần với mức 7,4% cùng kỳ năm trước. Ảnh: VietNamNet

Có thể kích cầu thêm, nhưng khi nguồn cung chưa theo kịp, tiền được đưa thêm ra thị trường chưa chắc làm hàng hóa và dịch vụ tăng tương ứng; một phần có thể đi vào giá. Bởi vậy, muốn đi từ hơn 8% lên 10%, phần tăng thêm sẽ phải trông nhiều hơn vào đầu tư.

Muốn tăng trưởng, phải đầu tư nhiều hơn

Tổng vốn đầu tư toàn xã hội sáu tháng đạt khoảng 1,81 triệu tỷ đồng, tăng 12,9%; trong khi FDI tám tháng đạt 40,6 tỷ USD vốn đăng ký và 17,25 tỷ USD vốn thực hiện. Nhu cầu vốn đầu tư của riêng năm 2026 để phục vụ mục tiêu tăng trưởng hai chữ số được tính khoảng 5,1 triệu tỷ đồng. Khoảng cách còn lại là rất lớn.

Riêng đầu tư công, tám tháng mới giải ngân khoảng 509.600 tỷ đồng, tăng hơn 100.000 tỷ đồng so với cùng kỳ nhưng mới đạt gần 50% kế hoạch. Nghĩa là một lượng vốn rất lớn đã được bố trí, vấn đề là đưa nó ra công trường nhanh đến đâu.

Với khu vực tư nhân, tăng đầu tư lại có những khó khăn khác. Đến ngày 22/8, tín dụng tăng 9,71%, nhanh hơn mức tăng 7,97% của huy động, trong khi lãi suất cho vay mới bình quân đã lên 8,93%/năm, cao hơn cuối năm 2025 khoảng 0,85 điểm phần trăm.

Việt Nam cần thêm rất nhiều vốn để đưa tăng trưởng lên 10%, nhưng nếu phần vốn tăng thêm vẫn chủ yếu dựa vào tín dụng ngân hàng thì sẽ ngày càng khó. Tiền gửi đang tăng chậm hơn tín dụng, còn giá vốn thay vì giảm lại đang nhích lên.

Đầu tư tăng, nhập khẩu cũng tăng

Theo báo cáo của Cục Thống kê tám tháng qua, xuất khẩu tăng 22,4%, nhưng nhập khẩu tăng tới 35,3%, khiến cán cân thương mại chuyển sang nhập siêu 20,46 tỷ USD. Hơn 94% hàng nhập khẩu là tư liệu sản xuất, cho thấy một phần máy móc, nguyên liệu nhập về đang phục vụ đầu tư và sản xuất, nhưng cũng cho thấy nền kinh tế vẫn phụ thuộc khá lớn vào đầu vào từ bên ngoài.

Nếu đầu tư tiếp tục tăng mạnh và kéo nhập khẩu tăng theo, I (đầu tư) có thể tăng nhưng đóng góp của X - M ( xuất khẩu - nhập khẩu) vào GDP lại giảm.

Khu vực FDI hiện chiếm hơn 80% kim ngạch xuất khẩu, trong khi doanh nghiệp trong nước nhập siêu hơn 30 tỷ USD. Muốn lên 10%, Việt Nam cần đầu tư nhiều hơn, nhưng càng dựa vào vốn và đầu vào nhập khẩu để tăng sản xuất, sức ép lên tín dụng và cán cân thương mại càng lớn.

Không thể việc gì cũng trông vào ngân hàng

Những con số trên cũng cho thấy khó tiếp tục dồn thêm gánh nặng tăng trưởng lên hệ thống ngân hàng. Ngân hàng Nhà nước đã phải mở thêm khả năng cho vay bằng cách nâng tỷ lệ tiền gửi có kỳ hạn (LDR) của Kho bạc Nhà nước được tính khi xác định từ 20% lên 50%.

Tín dụng tiếp tục chạy nhanh hơn tiền gửi thì ngân hàng phải tìm thêm tiền để cho vay và lãi suất khó giảm. Còn muốn giữ lãi suất thấp bằng cách nới tiền mạnh hơn, sức ép sẽ chuyển sang giá cả và tỷ giá, trong khi CPI tám tháng đã tăng 4,45%.

Không thể bắt ngân hàng chạy mãi nhanh hơn tiền gửi. Muốn tìm thêm tăng trưởng, phải nhìn nhiều hơn vào những nguồn lực đã có nhưng chưa được đưa vào nền kinh tế.

Gần 1 triệu tỷ đồng đang được khơi thông

Trong khi tiền tệ đã khá căng, tài khóa còn khoảng trống khi thu ngân sách tám tháng đạt gần 2,03 triệu tỷ đồng, tăng 16,2%, bội chi và nợ công vẫn trong giới hạn. Đầu tư công mới giải ngân gần 50% kế hoạch, nên trước khi tính chuyện huy động thêm tiền, vẫn còn một lượng vốn lớn đã có nhưng chưa được đưa vào nền kinh tế.

Khu vực tư nhân cũng vậy. Hơn 1.000 dự án tồn đọng với gần 1 triệu tỷ đồng vốn đầu tư đã được tháo gỡ. Đưa nhanh những dự án này trở lại công trường sẽ tạo thêm đầu tư, việc làm và sản lượng mà không phải tiếp tục dồn nhu cầu vốn lên hệ thống ngân hàng.

Muốn dòng vốn ấy đi nhanh hơn, phải tiếp tục cắt thủ tục, điều kiện kinh doanh và xử lý những quy định chồng chéo về đất đai, quy hoạch, đầu tư, xây dựng, đấu thầu; đồng thời không để luật mới lại sinh ra khoảng trống pháp lý hay điểm nghẽn mới.

Nếu một dự án bớt được vài tháng nằm chờ thủ tục, vốn cũng đi vào sản xuất sớm thêm vài tháng. Cải cách thể chế, vì thế, có thể tạo ra tăng trưởng ngay từ những đồng vốn đã có.

Nhưng khi nhập khẩu đã tăng 35,3%, tăng đầu tư thôi chưa đủ. Việt Nam còn phải làm được nhiều hơn những nguyên liệu, linh kiện và dịch vụ hiện vẫn phải mua từ bên ngoài. Khi ấy, đầu tư có thể tăng mà nhập khẩu không phải tăng nhanh tương ứng, và nhiều hơn giá trị của đồng vốn sẽ ở lại trong nền kinh tế.

Con đường tới 10% tất nhiên còn phụ thuộc vào những gì diễn ra bên ngoài Việt Nam. Nếu kinh tế thế giới thuận lợi hơn, nhu cầu tại các thị trường xuất khẩu phục hồi và những bất ổn bên ngoài giảm bớt, xuất khẩu và sản xuất trong nước sẽ có thêm lực đẩy. Đó là phần thuận lợi chúng ta có thể hy vọng và tận dụng, nhưng không thể tự quyết định.

Còn ở trong nước, số liệu tám tháng cho thấy khoảng trống để tăng tốc đã hẹp đi. Tiêu dùng chưa đủ mạnh, lạm phát chịu sức ép, tín dụng tăng nhanh hơn tiền gửi, trong khi đầu tư tăng lại kéo theo nhu cầu nhập khẩu lớn.

Nhưng đầu tư công vẫn còn một lượng vốn lớn phải giải ngân, hơn 1.000 dự án với gần 1 triệu tỷ đồng vốn đầu tư đã được tháo gỡ, và nhiều rào cản kinh doanh vẫn có thể tiếp tục được dỡ bỏ.

Chúng ta có thể hy vọng vào những cơn gió thuận từ bên ngoài. Nhưng tăng tốc từ hơn 8% lên 10%, trước hết vẫn phụ thuộc vào việc chúng ta đưa những nguồn lực đang có vào sản xuất nhanh đến mức nào.

Đường đến tăng trưởng hai con số trong 5 năm tới
Việt Nam đặt mục tiêu GDP tăng bình quân từ 10% trở lên giai đoạn 2026-2030. Mục tiêu này đòi hỏi không chỉ nhiều vốn mà quan trọng hơn là sử dụng vốn và lao động hiệu quả. Bài toán là tăng trưởng bằng cách nào.