

Một ngôi chùa sinh ra từ huyền tích, những pho tượng đất đi qua bao mùa nước, tiếng chuông giữa làng quê… Và ngay phía ngoài cửa Phật lại là một phiên chợ.
Một quầng sáng giữa rừng thông
Có những ngôi chùa được nhớ bằng niên đại, bằng pho tượng quý hay tầng mái cổ. Nhưng cũng có ngôi chùa sống lâu hơn trong ký ức cộng đồng nhờ một câu chuyện mà chẳng ai còn biết đâu là thực, đâu là huyền thoại.
Chùa Nôm là một nơi như thế. Tên chữ của chùa là Linh Thông cổ tự. Sử liệu chưa xác định chính xác ngôi chùa có từ bao giờ. Bia chùa cho biết vào năm Canh Thân 1680, niên hiệu Chính Hòa thời Lê, chùa đã được dựng lại. Nghĩa là trước mốc thời gian ấy, nơi đây đã có một ngôi cổ tự.


Nhưng người làng Nôm còn giữ một câu chuyện xa xưa hơn.
Tương truyền, một vị sư đang ngủ ở chùa Dâu bỗng tỉnh giấc giữa đêm và nhìn thấy từ phương Nam phát ra một luồng hào quang. Nhà sư đi theo ánh sáng ấy cho đến một khu rừng thông. Tại đây, ánh sáng lan thành một quầng lớn. Tin đó là điềm lành của trời Phật, vị sư dựng chùa giữa rừng và gọi nơi ấy là Linh Thông cổ tự. Truyền ngôn của các bậc cao niên còn đưa câu chuyện ấy trở về tận thời Hai Bà Trưng.
Không ai có thể chứng minh quầng sáng ấy từng xuất hiện. Nhưng huyền tích vốn không sinh ra để làm công việc của sử học.
Nó lưu giữ một thứ khác: niềm tin của con người rằng giữa thế gian vẫn có những nơi được lựa chọn để trở thành chốn nương tựa tinh thần.

Trên mái chùa, pháp luân và những đầu đao vút cong gợi vẻ linh thiêng của một ngôi cổ tự đi ra từ truyền ngôn.
Có lẽ bởi thế, bước qua khoảng nước trước chùa Nôm luôn đem lại một cảm giác đặc biệt. Một nhịp cầu không dài, nhưng đủ để phía bên kia dường như chậm lại. Mặt hồ giữ bóng mái cong, cây cổ thụ đứng lặng, màu ngói cũ chìm dưới khoảng trời khi xanh trong, lúc nặng mây.
Những pho tượng bằng đất và câu chuyện của vô thường
Nếu huyền tích về quầng sáng là câu chuyện mở đầu cho chùa Nôm, thì những pho tượng đất có lẽ là phần kỳ lạ nhất trong đời sống tâm linh của ngôi chùa.
Hiện chùa lưu giữ hơn 120 pho tượng cổ bằng đất, với nhiều dáng vẻ và thần thái khác nhau. Đó là Phật, Bồ Tát, La Hán, Bát bộ Kim Cương và các hình tượng trong thế giới Phật giáo. Nhiều pho đã tồn tại qua hàng trăm năm và qua những đợt lũ lụt của vùng đồng bằng.


Có một nghịch lý rất đẹp ở đây: Đất là thứ mong manh nhất. Gặp nước, đất có thể tan. Qua nắng mưa, đất trở về với đất. Nhưng chính thứ vật chất mong manh ấy lại được con người nặn thành hình Phật và gìn giữ qua bao thế hệ.
Điều đó khiến những pho tượng ở chùa Nôm dường như mang thêm một tầng ý nghĩa ngoài giá trị tạo tác. Phật giáo nói nhiều về vô thường. Không có gì đứng yên. Một đời người rồi sẽ già. Một mái ngói rồi sẽ phủ rêu. Một thân cây lớn lên rồi cũng có ngày trở về với đất.
Bởi vậy, đứng trước một pho tượng đất đã đi qua vài trăm năm, điều khiến người ta suy nghĩ không chỉ là tại sao nó còn tồn tại. Mà còn là: bao nhiêu con người từng đứng trước pho tượng ấy đã không còn nữa?
Còn pho tượng đất vẫn ngồi đó. Không hẳn để chứng minh sự trường tồn. Có khi chính là để nhắc rằng không có gì trường tồn…

Một cõi Phật rất gần với đời
Trong khuôn viên chùa, mặt nước xuất hiện nhiều lần như một khoảng thở.
Lầu Quan Âm soi bóng xuống hồ. Cây cầu uốn qua mặt nước. Những tán cây già đứng cạnh những lớp mái nối nhau. Nếu mặt hồ yên, cả ngôi chùa như có thêm một thế giới khác nằm ngược phía dưới.


Trong Phật giáo, Quan Thế Âm là vị Bồ Tát của lòng từ bi, lắng nghe tiếng khổ của chúng sinh. Nhưng đi vào đời sống người Việt, Quan Âm còn gần gũi hơn thế. Một người mẹ có thể đến trước Ngài để cầu cho con. Người có người thân đi xa cầu bình an. Người đang gặp hoạn nạn chỉ mong có nơi để nói ra điều không thể nói với ai.
Người ta không nhất thiết phải hiểu hết kinh điển mới bước vào chùa. Đôi khi chỉ cần biết cúi đầu.


Đó cũng là một đặc điểm rất riêng trong đời sống tín ngưỡng người Việt. Trong cùng một không gian văn hóa, người ta có thể lễ Phật, kính Mẫu, thờ Thành hoàng rồi trở về thắp hương cho tổ tiên. Những tầng tín ngưỡng ấy không nhất thiết loại trừ nhau. Chúng gặp nhau ở một điểm: con người biết mình từ đâu đến, biết ơn người đi trước và tin rằng cách mình sống hôm nay sẽ để lại điều gì đó cho người đến sau.
Thành ra cái thiêng của một ngôi chùa làng không dừng lại ở chính điện.
Nó nằm cả trên con đường người mẹ dắt con đến chùa. Trong tiếng chuông chiều vọng qua mái nhà. Trong nén hương một người con thắp vào ngày giỗ cha. Trong cách một người làng nhường người khác một bước vì vẫn nhớ điều thiện mà mình vừa khấn trước Phật.

Qua bức tường chùa là một phiên chợ
Có một bức ảnh rất đẹp ở chùa Nôm: bức tường cũ chạy dài theo con đường làng. Bên trong tường là mái chùa, bóng cây, cờ Phật giáo. Phía ngoài là con đường người dân vẫn đi mỗi ngày.
Bức tường ấy ngăn hai không gian, nhưng dường như không ngăn được hai thế giới. Bởi rời chùa Nôm không xa là chợ Nôm.

Chợ vẫn giữ nhịp của một chợ quê truyền thống, với các phiên vào những ngày có số cuối 1, 4, 6 và 9. Trong cấu trúc của làng Nôm xưa, chùa và chợ tồn tại gần nhau: một nơi dành cho đời sống tinh thần, một nơi dành cho trao đổi, mưu sinh.
Một bên là tiếng mõ - một bên là tiếng mặc cả. Một bên nhắc con người về buông bỏ - một bên mỗi sáng lại bắt đầu bằng chuyện bán/mua, được/mất.
Nghe tưởng đối nghịch. Nhưng hóa ra lại rất Việt Nam.
Bởi người nông dân xưa đâu thể ở mãi trong chùa. Khấn Phật xong vẫn phải về cấy ruộng. Người đàn bà lễ Quan Âm xong vẫn phải ra chợ bán mớ rau, đấu gạo. Người đàn ông cầu bình an rồi vẫn phải lo một vụ mùa, dựng một căn nhà, nuôi những đứa con trưởng thành…
Vì thế, hình ảnh đẹp nhất về chùa Nôm có khi không phải là mái chùa soi xuống mặt hồ. Mà là một người vừa từ cửa Phật bước ra rồi hòa vào phiên chợ. Họ lại mua, lại bán, lại lo cơm áo. lại sống trong những vui buồn, hơn thiệt của thế gian.
Chỉ khác một điều nhỏ. Có thể sau một tiếng chuông, lòng người đã lắng xuống đôi chút. Người ta tìm đến cửa thiền không phải để trốn khỏi nhân gian. Người ta tìm đến đó để khi trở lại nhân gian, có thể sống với nhau hiền hậu hơn...