
Tròn vai
Tại Hội nghị sơ kết hoạt động ngân hàng 6 tháng đầu năm 2026, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Đức Ấn đưa ra một định hướng điều hành rất rõ: chính sách tiền tệ tiếp tục được đặt trong mục tiêu tăng trưởng hai con số nhưng phải đi cùng kiểm soát lạm phát, ổn định vĩ mô, chất lượng tín dụng và an toàn hệ thống.
Thông điệp của Thống đốc, một lần nữa, phản ánh sự thay đổi trong vai trò của chính sách tiền tệ khi nền kinh tế bước vào giai đoạn tăng trưởng cao hơn.
Trong nhiều năm, chính sách tiền tệ được nhìn trước hết như chiếc neo ổn định của nền kinh tế: giữ lạm phát, giữ tỷ giá, giữ niềm tin vào đồng tiền và bảo đảm an toàn hệ thống ngân hàng.
Tuy nhiên, khi mục tiêu tăng trưởng được đặt cao hơn, chiếc neo ấy đang được yêu cầu làm thêm một việc khó hơn: vừa giữ ổn định, vừa tạo thêm động lực cho tăng trưởng.

Sáu tháng đầu năm 2026 cho thấy những kết quả điều hành đáng ghi nhận GDP tăng 8,18%; CPI bình quân sáu tháng tăng 4,38%, vẫn trong vùng kiểm soát.
Trong bức tranh đó có dấu ấn đặc biệt của chính sách tiền tệ: Tín dụng toàn hệ thống đến ngày 29/6 đạt 20,03 triệu tỷ đồng, tăng 7,73% so với cuối năm 2025 (tương đương bổ sung thêm khoảng 1,44 triệu tỷ đồng cho nền kinh tế). Xét từ góc độ tăng trưởng, đây là một tín hiệu tích cực. Dòng vốn ngân hàng đã quay lại mạnh hơn với sản xuất kinh doanh.
Theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước, khoảng 77% dư nợ nền kinh tế phục vụ lĩnh vực sản xuất kinh doanh; tín dụng cho xuất khẩu, nông nghiệp, doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp công nghệ cao đều được nhấn mạnh như những lĩnh vực ưu tiên.
Một kết quả nổi bật khác là tỷ giá được giữ ổn định giữa bối cảnh kinh tế thế giới nhiều bất định. Với một nền kinh tế có độ mở lớn như Việt Nam, ổn định tỷ giá không chỉ là câu chuyện của thị trường ngoại hối. Nó còn liên quan đến niềm tin của nhà đầu tư, chi phí nhập khẩu, nghĩa vụ trả nợ ngoại tệ và kỳ vọng lạm phát.
Mặt bằng lãi suất điều hành cũng tiếp tục được duy trì ở mức hợp lý. Ngân hàng Nhà nước đã làm việc trực tiếp với các ngân hàng thương mại, yêu cầu giảm lãi suất tiền gửi đối với các giao dịch phát sinh mới từ kỳ hạn 6 tháng trở lên, đồng thời giảm lãi suất cho vay để hỗ trợ doanh nghiệp và người dân.
Không chỉ có thuận lợi
Chính từ những kết quả đó, áp lực điều hành trong nửa cuối năm sẽ lớn hơn.
Đánh đổi đầu tiên là giữa tốc độ tăng trưởng và ổn định vĩ mô. Muốn dòng vốn tín dụng được mở rộng nhanh hơn để hỗ trợ nền kinh tế, nhà điều hành cần thận trọng hơn với chất lượng tín dụng và an toàn hệ thống.
Thứ hai là giữa ổn định tỷ giá và lãi suất. Giữ tỷ giá ổn định giúp giữ ổn định kỳ vọng của thị trường, nhưng lại khiến dư địa nới lỏng tiền tệ không còn nhiều như trước.
Thứ ba là giữa giảm lãi suất và cân đối nguồn vốn của các ngân hàng thương mại. Giảm lãi suất là yêu cầu của quá trình phục hồi kinh tế, khi tín dụng tăng nhanh hơn huy động vốn, áp lực cân đối nguồn vốn của các ngân hàng cũng lớn hơn.
Thứ tư là giữa ưu tiên các động lực tăng trưởng và bảo đảm khả năng tiếp cận vốn của toàn bộ nền kinh tế. Việc dành thêm dư địa tín dụng cho nhà ở xã hội, khu công nghiệp và các dự án lớn là phù hợp với mục tiêu phát triển. Tuy nhiên, cùng với đó là thách thức làm sao để doanh nghiệp nhỏ và vừa cũng không bị thu hẹp cơ hội tiếp cận vốn vì khu vực này chiếm đa số trong nền kinh tế.
Đánh đổi nữa là giữa tốc độ và chất lượng tín dụng. Tăng trưởng cao đòi hỏi dòng vốn được bơm ra nhanh hơn, đồng vốn phải đến đúng địa chỉ và được kiểm soát rủi ro chặt chẽ hơn. Chính vì vậy, xử lý nợ xấu, kiểm soát tín dụng rủi ro và bảo đảm an toàn hệ thống cần được xem là những nhiệm vụ không tách rời mục tiêu tăng trưởng.
Và trong điều hành tiền tệ, mọi quyết định đều đi kèm những mặt được và mặt đánh đổi, như phân tích ở trên.
Cân bằng để giữ ổn định vĩ mô
Bởi vậy, phép thử lớn nhất của chính sách tiền tệ trong sáu tháng cuối năm là khả năng giữ được thế cân bằng giữa các mục tiêu: vừa hỗ trợ tăng trưởng, vừa giữ ổn định tỷ giá; vừa giảm chi phí vốn, vừa bảo đảm thanh khoản; vừa mở rộng tín dụng, vừa không làm suy giảm chất lượng tín dụng và an toàn hệ thống.
Các mục tiêu này sẽ quan trọng hơn so với việc tín dụng tăng thêm bao nhiêu hay lãi suất giảm được bao nhiêu.
Thực tế, chính việc Ngân hàng Nhà nước liên tục nhấn mạnh các yêu cầu về chất lượng tín dụng, xử lý nợ xấu, cân đối nguồn vốn và bảo đảm an toàn hệ thống cho thấy cơ quan điều hành không chỉ quan tâm đến tốc độ tăng trưởng, mà còn hướng tới tính bền vững của quá trình tăng trưởng đó.
Đây cũng là điểm khác biệt giữa một chính sách tiền tệ hỗ trợ tăng trưởng với một chính sách tiền tệ chạy theo tăng trưởng bằng mọi giá.
Điều đọng lại sau thông điệp của Thống đốc không chỉ là yêu cầu hỗ trợ tăng trưởng, mà còn là yêu cầu giữ được ổn định trong quá trình theo đuổi mục tiêu tăng trưởng cao. Đó là ranh giới khó nhất, nhưng cũng là ranh giới quan trọng nhất của điều hành chính sách tiền tệ hiện nay.
Suy cho cùng, tăng trưởng hai con số là mục tiêu của cả nền kinh tế, không phải của riêng Ngân hàng Nhà nước.
Muốn đi nhanh và đi xa, Việt Nam cần sự phối hợp đồng bộ giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa, cùng với cải cách thể chế, đẩy mạnh giải ngân đầu tư công, phát triển thị trường vốn và nâng cao năng suất của khu vực doanh nghiệp.
Khi các chính sách cùng phát huy hiệu quả, gánh nặng sẽ không dồn lên riêng hệ thống ngân hàng.
Khi đó, chính sách tiền tệ cũng sẽ có thêm dư địa để vừa hỗ trợ tăng trưởng, vừa tiếp tục giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô – nền tảng quan trọng nhất cho mục tiêu tăng trưởng nhanh và bền vững.
