Cách đây không lâu, khi thăm khuôn viên Viện Nghiên cứu Đài Loan (Trung Quốc), nhà nghiên cứu Quách Thị Thu Hiền - Viện Văn học Việt Nam đặc biệt chú ý tới một pho tượng hổ bên trong miếu thổ địa.

Việc hổ xuất hiện như một linh thú trong miếu thổ địa đó khiến nhà nghiên cứu nảy sinh câu hỏi: Vì sao trong hệ thống các thần Đạo giáo cũng như hệ thống thần làng, thần thành hoàng của người Việt, có thần núi, thần sông, thần cây, thần rắn… nhưng lại không thấy một vị thần hổ được định danh rõ ràng?

W-Tin nguong tho ho.jpg
Tục cúng hổ có lẽ đã xuất hiện từ sớm trong cộng đồng cư dân sống quanh khu vực giáp ranh rừng hoặc lấy rừng làm không gian sinh sống, lao động.

Tục cúng hổ trong văn hóa Việt Nam

Ngược dòng lịch sử, người Việt cổ từ sớm đã có nhận thức về hổ. Bằng chứng là trên nắp chiếc thạp đồng Đông Sơn tại di chỉ khảo cổ Vạn Thắng (Phú Thọ) có đúc 4 khối tượng hổ cắp mồi. Ở di chỉ Đông Sơn khác tại Lãng Ngâm (Bắc Ninh), các nhà khảo cổ cũng tìm thấy nhiều tấm đồng trổ thủng mang hình hổ.

Biểu tượng sức mạnh thiêng liêng

Trong tín ngưỡng dân gian như thờ Mẫu Tứ Phủ, hình tượng hổ là biểu tượng cho sức mạnh thiêng liêng, có thể trừ diệt tà ma, trấn giữ các phương, là thần linh canh cửa ở các ngôi đền.

Trong tranh dân gian Việt Nam, "Ngũ hổ" được vẽ với 5 màu sắc khác nhau, tượng trưng cho năm phương: Hoàng hổ (hổ vàng) trấn phương trung tâm (địa khu), Hắc hổ (hổ đen) trấn phương Bắc (thủy khu), Bạch hổ (hổ trắng) trấn phương Tây (kim khu), Xích hổ (hổ đỏ) trấn phương Nam (hỏa khu), Thanh hổ (hổ xanh) trấn phương Đông (mộc khu). 

Hình tượng hổ xuất hiện khá nhiều trong đình, chùa, quán... và trên các hiện vật cổ như đĩa gốm, tranh dân gian, tượng đá, cửu đỉnh nhà Nguyễn.

Theo bà Hiền, tục cúng hổ có lẽ đã xuất hiện từ sớm trong cộng đồng cư dân sống quanh khu vực giáp ranh rừng hoặc lấy rừng làm không gian sinh sống, lao động. Tín ngưỡng dân gian này ban đầu chỉ là tự phát trong một nhóm cư dân, tồn tại trong phạm vi địa lý nhất định, chưa trở thành một hệ thống tín ngưỡng hoàn chỉnh.

"Trong các tác phẩm văn học trung đại như Lĩnh Nam chích quái, Truyền kỳ mạn lục, hổ thường xuất trong một số câu chuyện huyền thoại, đại diện cho một thế lực siêu nhiên, thậm chí là đại diện cho cái ác. Những người có thể chinh phục hổ được nhìn nhận như đã đạt tới trình độ rất cao, gần với hình tượng thánh nhân. Hổ khi ấy vẫn là một biểu tượng của sự hung dữ mà con người phải chế ngự", bà Hiền phân tích.

Cách ứng xử với “ông hổ” vừa mang tính tôn thờ vừa có sự đề phòng. Người dân sợ đến mức không dám gọi thẳng tên hổ vì loài vật này có thể “nghe thấy” và tìm đến. Đến đầu thế kỷ XX, tục thờ hổ vẫn còn tồn tại ở một số vùng như Quảng Trị.

Khi ác thú trở thành thần bảo hộ

Nhưng rồi bước chuyển quan trọng đã xảy ra khoảng thế kỷ XVII-XVIII, khi tín ngưỡng dân gian về hổ có sự dung hợp với Đạo giáo.

W-Ba Hien 2.jpg
Nhà nghiên cứu Quách Thị Thu Hiền khuyến nghị cần nhìn tín ngưỡng thờ hổ không chỉ như một hiện tượng tín ngưỡng dân gian đơn lẻ, mà như một quá trình tiếp biến và dung hợp giữa các lớp văn hóa.

Hai dấu vết được bà Hiền đặc biệt lưu ý là truyện Tống sơn hổ ông ký do Vũ Phương Đề biên soạn năm 1755 và Sơn quân phả trong Thánh Tông di thảo.

Đặc biệt với Sơn quân phả, lần đầu tiên trong văn bản người Việt gọi hổ là “Sơn quân”. Câu chuyện tuy ngắn nhưng cho thấy một quá trình hình thành tín ngưỡng thờ hổ: từ vật tổ hổ đến tín ngưỡng shaman - Sơn thần, rồi đến “ông hổ” trong Đạo giáo.

"Sơn quân" có thể là một biến thể của thổ địa?

Dẫn câu chuyện trong tác phẩm Lục Vân Tiên: người tiểu đồng của Lục Vân Tiên bị ám hại nhưng sau đó được "Sơn quân" cứu, Tiến sĩ Phạm Văn Hưng - Nhà xuất bản Giáo dục cho rằng câu chuyện này gợi mở một cách nhìn đáng chú ý: ở khu vực rừng núi, "Sơn quân" có thể chính là một biến thể của thổ địa.

"Tôi cho rằng đã có một quá trình chuyển biến trong quan niệm về hổ: ban đầu là một nỗi sợ hãi, người ta cúng hổ là vì kiêng sợ, rồi dần dần hổ biến thành một vị thần bảo hộ”, bà Hiền nhận định.

Nghiên cứu của Nguyễn Văn Huyên về Đạo giáo cũng từng nhắc tới hình ảnh hổ với tư cách trợ thủ của các thánh, mang vai trò thần bảo hộ.

Bên cạnh đó, hổ còn được dân gian nhìn nhận như vị thần bảo vệ trẻ em và đại diện cho chính nghĩa.

Như vậy, từ một loài vật hung dữ, hổ đã bước sang một vai trò khác: đứng về phía con người, bảo vệ con người.

Nhà nghiên cứu Quách Thị Thu Hiền cho rằng, sự thay đổi ấy không chỉ đến từ việc con người tiếp xúc gần hơn với rừng mà còn bởi sự tích lũy thêm những lớp thần tính mới cho hổ thông qua Đạo giáo.

Đáng chú ý, tín ngưỡng dân gian không bị thay thế bằng Đạo giáo. Song song với ảnh hưởng của Đạo giáo, trong dân gian Việt Nam vẫn tồn tại một tín ngưỡng riêng về “ông hổ”. Chính sự giao thoa giữa tín ngưỡng bản địa với Đạo giáo đã tạo nên những lớp nghĩa phong phú của hình tượng hổ.

Bởi vậy, bà Hiền khuyến nghị cần nhìn tín ngưỡng thờ hổ không chỉ như một hiện tượng tín ngưỡng dân gian đơn lẻ, mà như một quá trình tiếp biến và dung hợp giữa các lớp văn hóa.