Quốc sách lâu dài làm cho nước Nam cường thịnh

Kinh nghiệm lịch sử cho thấy, khi lãnh đạo biết trọng dụng nhân tài, hiền sĩ khắp nơi sẽ theo nhau mà đến. Trọng dụng nhân tài sẽ giúp cho nước Nam cường thịnh, đó chính là tâm huyết của Nguyễn Trãi khi viết Bình Ngô Đại cáo cho Lê Lợi.

Là một trí thức, Nguyễn Trãi tin rằng sự thịnh suy hưng phế của các quốc gia, các triều đại xưa nay đều do con người tạo nên, không phải do mệnh trời hay do lẽ tuần hoàn của tạo hóa.

Bình Ngô Đại cáo, bản Tuyên ngôn độc lập lần thứ hai của Việt Nam, được Thái tổ Cao Hoàng đế Lê Lợi, người sáng lập triều đại Hậu Lê, công bố vào năm 1428, sau khi quét sạch giặc Minh, là một áng hùng văn kiệt tác bất hủ của Nguyễn Trãi, một nhà văn, nhà thơ, một chiến lược gia chính trị quân sự xuất chúng của mọi thời đại. Sử không cho biết chính xác năm Nguyễn Trãi gia nhập lực lượng kháng chiến do Lê Lợi lãnh đạo, nhưng nhiều tư liệu xác định ông không có mặt trong Hội thề Lũng Nhai do Lê Lợi tổ chức để khởi nghĩa (1416).

{keywords}
Đền thờ Nguyễn Trãi ở Hải Dương

Theo Đinh tộc ngọc phả, mãi đến năm 1423, bảy năm sau ngày Lê Lợi khởi nghĩa ở Lam Sơn, Nguyễn Trãi mới đến bái yết Bình Định Vương Lê Lợi. Nhưng từ khi có ông, cục diện kháng chiến chống Minh đã thay đổi. Thực hiện những kế sách của Nguyễn Trãi, lực lượng kháng chiến đã liên tục giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác. Nguyễn Trãi giỏi sử dụng chiến thuật dùng yếu đánh mạnh, dùng ít đánh nhiều và là một nhà tâm lý chiến đại tài. Ông là người đề xuất và thực hiện một mưu kế nổi tiếng vừa làm nản lòng quân xâm lược, vừa xây dựng niềm tin cho tướng lĩnh, binh sĩ và nhân dân ta là dùng mật ong viết lên lá rừng tám chữ “Lê Lợi vi quân, Nguyễn Trãi vi thần” cho kiến đục thành lỗ khiến quân Minh nghi là có thần giúp.

Tuy nhiên, các tướng lĩnh như Lê Sát, Phạm Vấn… (những người đã vào sinh ra tử cùng Lê Lợi trong buổi đầu kháng chiến) rất bất bình, cho là Nguyễn Trãi kiêu ngạo không coi họ ra gì. Đinh Liệt đứng ra hòa giải bằng cách yêu cầu sửa lại là “Lê Lợi vi quân, bách tính vi thần” (Lê Lợi là vua, trăm họ là bề tôi). Mối hiềm khích giữa Nguyễn Trãi, một người thuộc dòng dõi trâm anh thế phiệt (ông là cháu ngoại quan Tư Đồ Trần Nguyên Đán, thuộc tôn thất nhà Trần) và các công thần nhà Lê vốn xuất thân là những nông dân áo vải, đã nảy sinh từ lúc đó và có thể đó cũng là mầm mống di họa cho ông sau này.

Nguyễn Trãi đã dành trọn tâm huyết của cả một đời để viết Bình Ngô Đại cáo, lời bố cáo khắp thiên hạ của hoàng đế nước Nam. Văn phong của ông trác tuyệt, lời lẽ sắc bén hơn gươm đao, khí thế mạnh mẽ, hùng tráng hơn cả vạn binh, thấm đượm tình yêu nước, thể hiện ý chí độc lập tự cường, khí phách kẻ cả không hề nhún nhường kém cạnh với cường quốc phương Bắc, uy vũ hiên ngang mà vẫn giữ phong độ trang nghiêm văn hiến, càng đọc càng thấy lòng tự hào dân tộc trỗi dậy bừng bừng.

Nhưng đó không chỉ là một bản tuyên ngôn thể hiện niềm tự hào về lịch sử lẫy lừng hàng ngàn năm của Đại Việt, tán thán công lao dựng nước giữ nước của tiền nhân và của hoàng đế đương triều, tuyên dương mạnh mẽ chủ quyền độc lập thiêng liêng, chính thống và bất khả xâm phạm, sự toàn vẹn lãnh thổ và bản sắc văn hóa dân tộc Đại Việt, ghi nhận chiến công oanh liệt hiển hách của các tướng sĩ trong cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, mà còn chất chứa cả tấm lòng của một trung thần muốn nhắc nhở những người lãnh đạo triều đại mới một điều cốt tử trong sự nghiệp bảo vệ vương triều, bảo vệ chủ quyền độc lập và xây dựng đất nước: đó là cần phải trọng dụng người hiền tài.

Ngay trong phần mở đầu của bản Tuyên ngôn nhằm khẳng định chủ quyền độc lập, sự toàn vẹn lãnh thổ và nền văn hóa phong tục khác biệt giữa Đại Việt và Trung Hoa, Nguyễn Trãi đã viết hai câu cuối có ý nghĩa rất sâu sắc: “Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau, song hào kiệt đời nào cũng có”. Mới đọc qua, người đọc có thể chỉ nghĩ rằng đây là một nhận xét phù hợp với thực tế lịch sử, vì đúng là các triều đại nối tiếp nhau của hai nước có lúc thịnh lúc suy, nhưng nhân tài hai nước thì thời nào cũng xuất hiện.

Tuy nhiên, phân tích kỹ ý nghĩa của phần mở đầu, mới thấy hai chữ hào kiệt dùng ở đây là chỉ hào kiệt nước Nam. Nguyễn Trãi muốn nhắn nhủ người láng giềng phương Bắc rằng dân tộc Đại Việt thời nào cũng sản sinh ra anh hùng hào kiệt đủ tài năng bảo vệ đất nước, đừng uổng công phí sức âm mưu chiếm đoạt. Hàm ý trong hai câu này tương tự nội dung bốn câu thơ trong bản Tuyên ngôn Độc lập lần thứ nhất của Lý Thường Kiệt “Sông núi nước Nam, vua Nam ở, Rành rành định phận ở sách trời, Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm, Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời”.

Ngẫm đi ngẫm lại, chúng ta lại phát hiện một nghịch lý trong hai câu “tuy mạnh yếu có lúc khác nhau, song hào kiệt đời nào cũng có”. Vì sao đất nước thời nào cũng sản sinh ra anh hùng hào kiệt lại có lúc yếu lúc mạnh? Hiển nhiên là các triều đại Nam Bắc xưa nay nối tiếp nhau có lúc thịnh, lúc suy và sự thịnh suy đó không xảy ra cùng lúc, nên nhận xét của Nguyễn Trãi “tuy mạnh yếu có lúc khác nhau” là hoàn toàn chính xác. Nhưng nếu câu này đúng, chẳng lẽ câu “song hào kiệt đời nào cũng có” lại chỉ là một lời khoa trương? Chẳng lẽ đất nước đã có anh hùng hào kiệt mà vẫn yếu, vẫn suy hay sao? Vì sao anh hùng hào kiệt lại không thể làm đất nước cường thịnh?

Bình Ngô Đại cáo là tuyên cáo của một hoàng đế nước Nam cho khắp thiên hạ, lời của hoàng đế phải là lời chân thật, quân bất hý ngôn. Nguyễn Trãi là một học giả uyên bác, trong đoạn mở đầu ông đã viết “Như nước Việt ta từ trước, vốn xưng văn hiến đã lâu” thì câu kết “song hào kiệt đời nào cũng có” là một hệ quả tất yếu hợp lẽ. Đại Việt có nền văn hóa lâu đời, dân trí cao, khí thiêng sông núi hùng mạnh bền vững thì đương nhiên thời nào cũng có nhân tài xuất hiện.

Truyền thuyết dân gian kể rằng khi được vua Tàu cử sang làm Thái thú Giao Châu (tên gọi của nước ta khi còn bị Bắc thuộc), Cao Biền thấy xứ này long mạch rất vượng, tất phát đế vương ngàn đời, nên có dã tâm muốn phá, thường mặc áo phù thủy, cưỡi diều giấy đi khắp nơi để xem địa thế, hoặc giả tảng lập đàn cúng tế để lừa thần bản địa đến rồi dùng kiếm báu chém đầu, xong đào hào, chôn kim khí để triệt long mạch, nhưng cuối cùng cũng không thành công. Tuy chỉ là truyền thuyết, nhưng một dải giang sơn Đại Việt nằm dọc bờ Biển Đông từ đó nổi tiếng là nơi địa linh nhân kiệt.

Nếu nhận xét ở cả hai câu đều đúng, chúng ta cần tìm ra ẩn số để giải mã nghịch lý này? Ẩn số đó phù hợp với mọi thời đại, mọi quốc gia, ngày trước cũng như bây giờ. Thời nào mà người lãnh đạo quốc gia biết trọng dụng hiền tài, quốc gia sẽ thịnh trị, còn thời nào hiền tài bị bỏ phế, đất nước phải suy vong.

Là một trí thức, Nguyễn Trãi tin rằng sự thịnh suy hưng phế của các quốc gia, các triều đại xưa nay đều do con người tạo nên, không phải do mệnh trời hay do lẽ tuần hoàn của tạo hóa. Ông mong muốn vị hoàng đế sáng lập triều đại Hậu Lê hiểu rằng muốn xây dựng đế nghiệp vững bền, quốc gia dân tộc cường thịnh khiến ngoại bang không dám dòm ngó thì phải thực thi chính sách chiêu hiền đãi sĩ, trọng dụng nhân tài. Ông đã gửi gắm tâm sự của ông qua những lời lẽ thiết tha bày tỏ tấm lòng cầu hiền như khát nước của Lê Lợi trong thời kỳ kháng chiến qua những câu sau đây:

Lại ngặt vì:

Tuấn kiệt như sao buổi sớm

Nhân tài như lá mùa thu

Việc bôn tẩu thiếu kẻ đỡ đần

Nơi duy ác hiếm người bàn bạc

Tấm lòng cứu nước, vẫn đăm đăm muốn tiến về Đông

Cỗ xe cầu hiền, thường chăm chắm còn dành phía tả

Trông người, người càng vắng bóng, mịt mù như nhìn chốn bể khơi…

Trong kháng chiến, nhờ có nhân tài mới đánh đuổi được quân xâm lược thì trong hòa bình, càng cần nhân tài nhiều hơn để xây dựng và bảo vệ đất nước. Kinh nghiệm lịch sử cho thấy, khi lãnh đạo quốc gia biết trọng dụng nhân tài, hiền sĩ khắp nơi sẽ theo nhau mà đến. Trọng dụng nhân tài là một quốc sách lâu dài làm cho nước Nam cường thịnh, đó chính là tâm huyết của Nguyễn Trãi khi viết Bình Ngô Đại cáo cho Lê Lợi.

Thu Hà

tin nổi bật

Máy bay chiến đấu Su - 30MK2 hợp luyện cùng trực thăng Mi trên bầu trời Thủ đô

Để chuẩn bị trình diễn tại lễ khai mạc Triển lãm Quốc phòng quốc tế Việt Nam 2022, các đơn vị máy bay chiến đấu Su-30MK2 và trực thăng họ Mi đã thao diễn trên bầu trời khu vực sân bay Gia Lâm, Hà Nội vào buổi sáng ngày 3 và 4/11/2022.

Xây dựng Luật Phòng thủ dân sự để kịp thời ứng phó, khắc phục hậu quả thảm họa, sự cố

Phòng thủ dân sự (PTDS) là bộ phận của phòng thủ đất nước bao gồm các biện pháp phòng, chống chiến tranh; phòng, chống, khắc phục hậu quả thảm họa, sự cố, thiên tai, dịch bệnh; bảo vệ nhân dân, cơ quan, tổ chức và nền kinh tế quốc dân.

Bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Đông Nam Bộ tầm nhìn đến năm 2045

Đông Nam Bộ là vùng có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và đối ngoại của đất nước.

Chủ động thực hiện có hiệu quả nhiều Mục tiêu phát triển bền vững

Trong khả năng của mình, Việt Nam sẵn sàng tham gia cùng LHQ ứng phó với khủng hoảng lương thực hiện nay.

Bảo vệ tổ quốc trong tình hình mới: An ninh kỹ thuật số

SICW 2022 - diễn đàn an ninh mạng quan trọng hàng đầu tại châu Á - Thái Bình Dương, kỳ vọng sẽ tạo động lực xây dựng năng lực không gian mạng và củng cố các mối quan hệ đối tác quốc tế trong bối cảnh các mối đe dọa an ninh mạng ngày càng phức tạp.

Việt Nam chủ động, tích cực góp phần duy trì hòa bình và an ninh quốc tế

Việt Nam đã thể hiện mình là một thành viên ngày càng tích cực của cộng đồng quốc tế, trong đó có những đóng góp cho hoạt động gìn giữ hòa bình của LHQ và Chương trình nghị sự về Phụ nữ, Hòa bình và An ninh của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc.

Khoảng 20 vấn đề an ninh phi truyền thống cần nghiên cứu chuyên sâu ở Việt Nam

"An ninh phi truyền thống quyết định sự bền vững của mỗi cá nhân con người và chúng ta cần đối phó với nó, tức là phải xây dựng chiến lược, ứng phó với từng mối đe doạ an ninh phi truyền thống".

Đảm bảo bình đẳng giới để xây dựng một thế giới hòa bình và kiên cường hơn

Việt Nam đánh giá cao vai trò quan trọng của phụ nữ trong việc bảo vệ an ninh và phát triển đất nước.

"Tiếp tục đẩy mạnh CNH-HĐH đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045"

Việc đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa là một chủ trương lớn, là nhiệm vụ chiến lược, nhiệm vụ trung tâm, quan trọng hàng đầu của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

Làm chủ 'sức mạnh mềm' quyền con người để xây dựng đất nước

Nghị quyết Đại hội Đảng XIII tiếp tục nhấn mạnh nhiệm vụ bảo đảm quyền con người khi khẳng định nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Các yếu tố nền tảng vẫn chắc chắn và các nhà đầu tư vẫn tin tưởng vào Việt Nam

"Các yếu tố nền tảng của Việt Nam vẫn chắc chắn và các nhà đầu tư vẫn tin tưởng vào Việt Nam. Nếu thực hiện tốt các giải pháp, Việt Nam hoàn toàn có thể vượt qua năm 2023 rất khó khăn và hướng tới năm 2024 một cách tích cực hơn nữa".

Bảo vệ tổ quốc trong tình hình mới: Việt Nam cam kết chống khủng bố

Việt Nam đã có nhiều nỗ lực trong thực hiện Chiến lược Chống khủng bố toàn cầu của Liên hợp quốc và các nghĩa vụ quốc tế trong chống khủng bố.

Tăng cường đối ngoại đa phương để ứng phó thách thức phi truyền thống

Phạm vi tác động của an ninh phi truyền thống đã vượt ra khỏi biên giới lãnh thổ và lợi ích an ninh quốc gia dân tộc của một nước, trở thành những thách thức mang tính toàn cầu.

Gặp khó, DN Việt vẫn tiên phong trong triển khai dự án đầu tư tại Cuba

Trong bối cảnh hai bên cùng đối mặt với khó khăn do tác động của đại dịch Covid-19, doanh nghiệp Việt Nam vẫn tiên phong trong triển khai dự án đầu tư tại Cuba và đã đạt được kết quả quan trọng.

Từ bị động chuyển sang chủ động phòng ngừa, bảo vệ và phục hồi

Thiên tai là một loại giặc, giặc "tiên phong của đói và nghèo”. Thời gian qua, công tác bảo vệ môi trường đã chuyển bị động sang ứng phó, sang chủ động phòng ngừa, bảo vệ và phục hồi.