Mềm dẻo trong bang giao, kiên định với chủ quyền

Trong lịch sử, Trần Nhân Tông là nhân vật đặc biệt khi cuộc đời gắn với hai tư cách: một vị hoàng đế và một thiền sư, Phật hoàng. Nếu nhìn từ lịch sử chính trị, ông là vị vua cùng triều Trần đưa Đại Việt vượt qua các cuộc chiến với đế quốc Nguyên - Mông. Từ lịch sử tư tưởng và tôn giáo, ông là người đặt nền móng cho Thiền phái Trúc Lâm mang đậm bản sắc Đại Việt.

W-Phat hoang Tran Nhan Tong.jpg
Tượng thờ Phật hoàng Trần Nhân Tông.

Điều đáng chú ý, theo PGS.TS Nguyễn Thị Mỹ Hạnh, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, là hai tư cách ấy chưa bao giờ hoàn toàn tách rời.

Năm 1293, Trần Nhân Tông rời ngai vàng, sau đó lên Yên Tử, khoác áo tu hành. Nhưng vai trò của ông đối với quốc gia không chấm dứt. Ông vẫn tiếp sứ nhà Nguyên, tham gia những công việc quan trọng của triều đình và hiện diện trong tiến trình kiến tạo hòa bình sau chiến tranh. Năm 1301, ông thực hiện chuyến đi kéo dài nhiều tháng sang Champa, một hành trình khó chỉ lý giải như cuộc vân du tôn giáo, nhưng cũng không hoàn toàn nằm trong khuôn khổ ngoại giao cung đình.

Tôi muốn nhìn Trần Nhân Tông không chỉ trong hai tư cách quen thuộc - một vị vua và một thiền sư - mà ở điểm giao nhau giữa hai tư cách ấy”, PGS.TS Nguyễn Thị Mỹ Hạnh chia sẻ.

Trường hợp Phật hoàng Trần Nhân Tông gợi mở một cách nhìn rộng hơn về lịch sử ngoại giao Việt Nam thời trung đại. Nếu chỉ nhìn ngoại giao qua triều đình, nhà vua, sứ thần, quốc thư, triều cống hay những cuộc thương lượng chính thức, chúng ta có thể bỏ qua một phần rất quan trọng của đời sống đối ngoại trong xã hội tiền hiện đại. Bởi bên cạnh quyền lực của thiết chế còn có uy tín của con người; bên cạnh những kênh ngoại giao chính thức còn có những không gian được tạo dựng bởi văn hóa, tôn giáo và những quan hệ cá nhân; bên cạnh khả năng buộc đối phương phải chấp nhận bằng sức mạnh còn có khả năng khiến đối phương sẵn sàng đối thoại bằng lòng tin.

Theo bà Hạnh, có thể sử dụng khái niệm “ngoại giao Phật giáo” như một lăng kính để nhận diện sự giao thoa giữa tôn giáo và đối ngoại dưới thời Trần. Phật giáo không thay thế những suy tính về an ninh, chủ quyền hay lợi ích quốc gia, cũng không phải mọi hành động đối ngoại của Trần Nhân Tông đều có thể quy về giáo lý nhà Phật. Điều đáng quan tâm là quyền uy, những giá trị đạo đức và vị thế đặc biệt mà Phật giáo đem lại đã bổ sung cho những phương thức bang giao vốn có của Đại Việt.

Sau năm 1288, thách thức đối với Đại Việt là làm thế nào chung sống với một đế chế vừa bị đánh bại. Triều Trần nhanh chóng khôi phục quan hệ bang giao với nhà Nguyên. Đại Việt vẫn triều cống, vẫn xưng thần, các văn thư gửi triều Nguyên sử dụng ngôn ngữ khiêm nhường. Nhưng có một ranh giới Trần Nhân Tông không bước qua: quyền tự quyết của Đại Việt. Nhà Nguyên nhiều lần yêu cầu vua Đại Việt trực tiếp sang chầu, song Trần Nhân Tông vẫn kiên trì từ chối.

Nếu phải cô đọng tinh thần ngoại giao với nhà Nguyên vào một ý, tôi muốn gọi đó là: mềm dẻo về nghi lễ nhưng kiên định về chủ quyền”, PGS.TS Nguyễn Thị Mỹ Hạnh nhấn mạnh.

Tinh thần hòa hiếu của Phật giáo không làm Trần Nhân Tông quên đi chủ quyền; ngược lại, ý thức về chủ quyền cũng không khiến ông biến chiến thắng quân sự thành tâm thế đối đầu vĩnh viễn.

Ông đã tham gia vào một quá trình khó hơn chiến thắng: chuyển hóa chiến thắng thành hòa bình”, bà Hạnh nhận định.

Quyền uy tôn giáo và nghệ thuật kiến tạo hòa bình

Nếu quan hệ với nhà Nguyên cho thấy cách Trần Nhân Tông ứng xử với một cựu thù, thì chuyến đi Champa năm 1301 cho thấy khả năng khác của quyền uy tôn giáo: mở ra không gian đối thoại vượt khỏi ngoại giao cung đình thông thường.

W-PGS.TS Nguyen Thi My Hanh.jpg
PGS.TS Nguyễn Thị Mỹ Hạnh, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. 

Hai không gian đối ngoại tiêu biểu gồm nhà Nguyên ở phía Bắc và Champa ở phía Nam là hai hướng đối ngoại quan trọng, đặt Phật hoàng Trần Nhân Tông trước những bài toán khác nhau: Với nhà Nguyên là làm thế nào chuyển một quan hệ vừa trải qua chiến tranh sang trạng thái hòa bình mà vẫn giữ được giới hạn chủ quyền; Với Champa là xây dựng không gian tiếp xúc và lòng tin vượt ra ngoài khuôn thức bang giao thông thường.

PGS.TS Nguyễn Thị Mỹ Hạnh đặt câu hỏi: Trần Nhân Tông sang Champa với tư cách nào? Nếu là một nhà vua, đây phải là chuyến đi mang tính quốc gia; nếu là một sứ thần, ông phải mang theo sứ mệnh và quốc thư cụ thể. Nhưng khi ấy, ông không hoàn toàn là cả hai. Ông là một vị vua đã rời ngai vàng và đồng thời là một thiền sư.

Chính sự đặc biệt về thân phận tạo nên sự linh hoạt ngoại giao. Một sứ thần gặp Chế Mân trong khuôn khổ nghi lễ giữa hai triều đình; còn một Phật hoàng có thể gặp Chế Mân trong không gian rộng hơn, nơi tôn giáo, uy tín cá nhân, đối thoại tinh thần và quan hệ chính trị đan xen.

PGS.TS Nguyễn Thị Mỹ Hạnh cho rằng điều thay đổi khi Trần Nhân Tông từ hoàng đế trở thành Phật hoàng không đơn giản là sự chuyển đổi thân phận mà là sự chuyển hóa quyền lực. Khi còn là hoàng đế, quyền lực của ông được xác lập bởi thiết chế quân chủ. Khi trở thành Phật hoàng, bên cạnh chính danh của một cựu hoàng và Thái thượng hoàng, ông có thêm quyền uy được tạo nên từ uy tín đạo đức, vị thế tôn giáo và sự thừa nhận của cộng đồng. Hai nguồn quyền uy ấy cùng tồn tại, bổ sung cho nhau, tạo nên một chủ thể đối ngoại đặc biệt trong lịch sử Đại Việt.

Vì vậy, theo bà Hạnh, nếu chỉ nói Trần Nhân Tông “sử dụng Phật giáo để làm ngoại giao” thì chưa đủ. Phật giáo không đơn thuần là công cụ được chính trị huy động, cũng không phải quyền lực tôn giáo thay thế quyền lực chính trị. Điều tinh tế hơn là hai nguồn quyền lực gặp nhau trong cùng một con người, tạo ra những khả năng hành động mà một nhà vua hay một thiền sư đơn thuần khó có được.

Nhìn rộng hơn, trường hợp Trần Nhân Tông cho thấy ngoại giao thời trung đại không chỉ được tạo nên bởi triều đình, sứ thần, quốc thư hay những cuộc thương lượng chính thức. Bên cạnh quyền lực thiết chế còn có uy tín của con người; bên cạnh các kênh ngoại giao chính thức còn có những không gian được tạo dựng bởi văn hóa, tôn giáo và quan hệ cá nhân.

Nếu ở giai đoạn trước, Trần Nhân Tông góp phần bảo vệ Đại Việt bằng sức mạnh quân sự và nghệ thuật lãnh đạo, thì ở giai đoạn sau, ông tiếp tục bảo vệ thành quả chiến thắng bằng đối thoại, lòng tin và hòa hiếu.

“Giữ được đất nước trong chiến tranh là bảo vệ độc lập; nhưng làm cho đất nước không phải trở lại chiến tranh cũng là bảo vệ độc lập”, PGS.TS Nguyễn Thị Mỹ Hạnh phân tích.

Đó cũng là một trong những di sản sâu sắc của vị Phật hoàng đối với lịch sử ngoại giao Việt Nam: không chỉ góp phần làm nên một Đại Việt biết chiến thắng trong chiến tranh, mà còn góp phần tạo nên một Đại Việt biết bước ra khỏi chiến tranh để kiến tạo hòa bình.