1. Việt Nam có bao nhiêu dân tộc thiểu số có dân số trên 1 triệu người?

  • 5
    0%
  • 6
    0%
  • 7
    0%
  • 8
    0%
  • 0%
Chính xác

Việt Nam có 6 dân tộc thiểu số dân số trên 1 triệu người gồm: Tày, Thái, Mường, Khmer, Mông, Nùng; 14 dân tộc thiểu số rất ít người (dưới 10 nghìn người).

5 dân tộc thiểu số có dân số ít nhất, gồm: Ơ Đu, Brâu, Rơ Măm, Pu Péo và Si La.

Theo tổng hợp của Bộ Dân tộc và Tôn giáo, hiện nay dân số Việt Nam có hơn 101,5 triệu người, đứng thứ 3 Đông Nam Á, thứ 15 trên thế giới. Trong đó, dân số của 53 dân tộc thiểu số ở Việt Nam là hơn 14,8 triệu người, chiếm khoảng 14,6% dân số cả nước. Giai đoạn 2014-2024, dân số các dân tộc thiểu số tăng bình quân 1,35%/năm, cao hơn mức chung của cả nước. 

Đồng bào sinh sống chủ yếu tại các vùng Tây Bắc, Tây Nguyên, Tây Nam Bộ và duyên hải miền Trung.

2. Tên Ủy ban Dân tộc xuất hiện vào năm nào?

  • 1946
    0%
  • 1955
    0%
  • 1959
    0%
  • 1961
    0%
Chính xác

Năm 1959, Ủy ban Dân tộc thuộc Hội đồng Chính phủ được thành lập, có quyền hạn trách nhiệm ngang Bộ: “Ủy ban Dân tộc có nhiệm vụ giúp Chính phủ nghiên cứu và thực hiện chính sách dân tộc nhằm tăng cường đoàn kết giữa các dân tộc theo nguyên tắc bình đẳng tương trợ và tạo điều kiện cho các dân tộc thiểu số tiến bộ mau chóng về mọi mặt theo chủ nghĩa xã hội".

Năm 1946, cơ quan công tác dân tộc (CTDT) được thành lập với tổ chức tiền thân là Nha Dân tộc thiểu số thuộc Bộ Nội vụ, chiểu theo Sắc lệnh số 58/SL ngày 03/5/1946 của Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; đến năm 1947 thành lập Tổ Nghiên cứu dân tộc thuộc Ban Mặt trận - Dân vận Trung ương. Từ năm 1955, có 2 cơ quan CTDT, gồm: Tiểu ban Dân tộc Trung ương dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Trung ương và Ban Dân tộc Trung ương thuộc Chính phủ.

Ngày 06/3/1959, Ủy ban Dân tộc với vai trò là cơ quan ngang Bộ chính thức được thành lập theo Nghị định số 102/TTg của Thủ tướng Chính phủ. Cũng trong năm 1959, thành lập “Khu đào tạo cán bộ dân tộc miền Nam” trực thuộc Ủy ban. Năm 1961, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Ủy ban Dân tộc được quy định cụ thể hơn.

Trải qua các thời kỳ, với các tên gọi khác nhau, cơ quan CTDT đã hoàn thành trọng trách tham mưu cho Đảng, Nhà nước về lĩnh vực CTDT, thực hiện chính sách dân tộc, với mục tiêu bảo đảm hỗ trợ đồng bào các dân tộc “tiến kịp trình độ chung” đã được ghi trong Hiến pháp năm 1946.

Năm 2025, trên cơ sở tổ chức lại Ủy ban Dân tộc và tiếp nhận Ban Tôn giáo Chính phủ (từ Bộ Nội vụ), Bộ Dân tộc và Tôn giáo được thành lập, chịu trách nhiệm quản lý nhà nước về công tác dân tộc và tôn giáo.

3. Trường Đào tạo cán bộ dân tộc do Nha Dân tộc thiểu số mở mang tên ai?

  • Nùng Trí Cao
    0%
  • Hoàng Quốc Việt
    0%
  • Hoàng Văn Thụ
    0%
  • Vàng Lý Tả
    0%
Chính xác

Sau khi được thành lập,  một trong những nhiệm vụ đầu tiên của Nha Dân tộc thiểu số là mở Trường Đào tạo cán bộ dân tộc mang tên “Nùng Trí Cao”, khóa học đầu tiên tại Hà Nội được Bác Hồ tới thăm. Lớp cán bộ dân tộc do trường đào tạo sau đó tỏa đi khắp cả nước tham gia công tác trên các lĩnh vực, phục vụ cho sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc. 

Nùng Trí Cao (1025-1055) là một danh tướng người Tày, đại diện cho ý chí và sức mạnh của nhân dân Cao Bằng trong việc bảo vệ và giữ vững biên cương của Tổ quốc ở thế kỷ XI.

Khi được nhà Lý phong chức Thái bảo, cấp ấn Đô tướng, Nùng Trí Cao đã thể hiện vai trò tích cực trong nhiệm vụ trấn giữ và làm phên dậu trên một vùng biên thùy trọng yếu. Ông phát huy tốt vai trò người lãnh đạo, người đứng đầu, tổ chức, cai quản vùng đất châu Quảng Nguyên. Xuất phát từ lòng yêu quê hương, bảo vệ biên cương của đất nước, Nùng Trí Cao xây dựng lực lượng hùng mạnh nhằm chống lại nhà Tống xâm lược. Nhân dân tôn vinh những thành tựu xây dựng, bảo vệ quê hương của ông gắn với cuộc kháng chiến chống quân Tống của Đại Việt dưới triều Lý. Đền Kỳ Sầm tại Cao Bằng - nơi thờ Khâu Sầm Đại Vương Nùng Trí Cao - được xây dựng từ thời nhà Lý và được xếp hạng Di tích lịch sử cấp quốc gia năm 1993.

4. Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030, giai đoạn I: 2021-2025 thường được gọi là gì?

  • Chương trình 133
    0%
  • Chương trình 135
    0%
  • Chương trình mục tiêu quốc gia 1719
    0%
  • Chương trình 2021-2025
    0%
Chính xác

Trong 40 năm Đổi mới, một trục chính sách xuyên suốt đã được hình thành – vừa định hướng, vừa dẫn dắt, vừa trực tiếp tạo lực đẩy cho phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Năm 2021, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 – 2030, giai đoạn I: 2021-2025 tại Quyết định 1719/QĐ-TTg. Chương trình này tích hợp 118 chính sách, được bố trí 137 nghìn tỷ đồng để giải quyết “5 nhất” ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. 

Chương trình này đánh dấu bước chuyển quan trọng, từ chính sách đơn lẻ sang cách tiếp cận tổng thể, tích hợp và dài hạn.

Các chính sách được triển khai đồng bộ đã góp phần thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng, cải thiện rõ rệt đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào, đồng thời củng cố quốc phòng, an ninh và ổn định chính trị - xã hội.