Từ chính sách đến những đổi thay trong đời sống
Sau sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh, Khánh Hòa có 65 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 16 phường, 48 xã và một đặc khu. Toàn tỉnh có 34 dân tộc thiểu số với 266.284 người, chiếm 11,79% dân số, trong đó đông nhất là đồng bào Raglai, Chăm và Cơ Ho.
Theo số liệu phân định địa bàn được tổng hợp, tỉnh có 28 xã, phường thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, với 164 thôn, trong đó 73 thôn đặc biệt khó khăn.
Đặc điểm địa bàn, điều kiện sản xuất và bản sắc văn hóa đa dạng đặt ra yêu cầu triển khai chính sách dân tộc phù hợp với từng vùng, từng cộng đồng. Đây cũng là nhiệm vụ xuyên suốt của Khánh Hòa trong quá trình thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW và Kết luận số 65-KL/TW của Bộ Chính trị về công tác dân tộc.

Giai đoạn 2021-2025, tổng vốn ngân sách trung ương và địa phương phân bổ cho ba chương trình mục tiêu quốc gia trên địa bàn đạt hơn 3.380 tỷ đồng. Trong đó, riêng Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi được phân bổ hơn 1.920 tỷ đồng.
Từ nguồn lực này, các địa phương đã hỗ trợ đất ở cho 526 hộ, xây mới nhà ở cho 1.688 hộ, hỗ trợ chuyển đổi nghề cho 2.865 hộ nghèo thiếu đất sản xuất; hỗ trợ nước sinh hoạt phân tán cho 1.093 hộ và đầu tư 20 công trình nước sinh hoạt tập trung.
Đáng chú ý, Khánh Hòa trước sắp xếp còn ban hành chính sách hỗ trợ thêm kinh phí xây dựng nhà ở cho hộ nghèo. Theo Nghị quyết số 11/2023/NQ-HĐND, ngoài mức hỗ trợ 40 triệu đồng/hộ từ ngân sách trung ương, các hộ thuộc diện chính sách được địa phương hỗ trợ thêm 40 triệu đồng/hộ, đồng thời có thể tiếp cận nguồn vốn tín dụng chính sách nếu đáp ứng điều kiện.
Không chỉ giải quyết khó khăn trước mắt, chính sách dân tộc còn hướng tới tạo sinh kế lâu dài, giúp đồng bào từng bước nâng cao thu nhập.
Tại Khánh Hòa trước sắp xếp, vùng chuyên canh sầu riêng phát triển lên khoảng 2.300ha, bưởi da xanh khoảng 700ha. Nhiều hộ đồng bào đã chủ động áp dụng khoa học kỹ thuật, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, đầu tư sản xuất và vươn lên phát triển kinh tế.
Ở Ninh Thuận trước sắp xếp, theo báo cáo năm 2024, địa phương đã hình thành 57 liên kết sản xuất với diện tích 14.267ha và 31 mô hình “cánh đồng lớn” trên diện tích 4.242ha, góp phần thúc đẩy sản xuất tập trung, gắn người dân với doanh nghiệp và thị trường.
Nguồn vốn tín dụng chính sách cũng trở thành một kênh hỗ trợ sinh kế quan trọng. Giai đoạn 2019-2024, tại Ninh Thuận trước sắp xếp, có 36.460 lượt hộ dân tộc thiểu số được vay vốn với tổng số tiền 1.440 tỷ đồng.
Việc cho vay được kết hợp với hướng dẫn kỹ thuật, kiểm tra sử dụng vốn và nhân rộng mô hình sản xuất hiệu quả, qua đó khuyến khích người dân chủ động phát triển kinh tế gia đình.
Phát triển kinh tế gắn với gìn giữ bản sắc văn hóa
Cùng với đầu tư hạ tầng và hỗ trợ sản xuất, Khánh Hòa chú trọng nâng cao chất lượng giáo dục, chăm sóc sức khỏe và bảo tồn các giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào dân tộc thiểu số.
Toàn tỉnh hiện có 11 trường phổ thông dân tộc nội trú và 11 trường phổ thông dân tộc bán trú. Các chính sách hỗ trợ học sinh, người học ở vùng đặc biệt khó khăn và đội ngũ giáo viên tiếp tục được triển khai, góp phần tạo điều kiện học tập cho con em đồng bào.
Công tác đào tạo nghề được gắn với tư vấn, giới thiệu việc làm và kết nối doanh nghiệp. Mạng lưới y tế cơ sở từng bước được củng cố, đồng thời chú trọng chính sách bảo hiểm y tế, chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em và phòng, chống suy dinh dưỡng.
Đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số, phát triển kinh tế không thể tách rời gìn giữ bản sắc văn hóa. Những giá trị truyền thống vừa là nền tảng tinh thần, vừa có thể trở thành nguồn lực phục vụ phát triển bền vững.
Khánh Hòa là địa bàn có nhiều giá trị văn hóa đặc sắc của đồng bào Chăm, Raglai và các dân tộc khác. Hoạt động kiểm kê, sưu tầm, bảo tồn lễ hội, nhạc cụ, nghề thủ công và truyền dạy di sản tiếp tục được quan tâm.
Đặc biệt, “Nghệ thuật làm gốm của người Chăm” được UNESCO ghi danh vào Danh sách Di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp năm 2022, tạo thêm cơ sở để bảo vệ kỹ năng nghề truyền thống, phát huy vai trò nghệ nhân và trao truyền di sản cho thế hệ trẻ.
Cùng với các giá trị văn hóa đặc sắc, cảnh quan thiên nhiên và đời sống cộng đồng mở ra tiềm năng phát triển du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng.
Một yếu tố quan trọng khác trong triển khai chính sách dân tộc là phát huy vai trò của hệ thống chính trị cơ sở và những người có uy tín trong cộng đồng.
Trước sắp xếp, Khánh Hòa đã thực hiện phương châm “tỉnh sát xã, huyện sát thôn, xã sát các hộ dân”, thành lập 36 nhóm với 172 cơ quan, đơn vị tham gia hỗ trợ các xã. Giai đoạn 2019-2024, các nhóm đã huy động 16,32 tỷ đồng để hỗ trợ vật tư, xây dựng nhà tình nghĩa và trang bị thiết bị giáo dục.
Cách làm này góp phần gắn trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị với nhu cầu thực tế ở từng địa bàn.
Bên cạnh đó, già làng, người có uy tín, trưởng tộc họ, chức sắc và các lực lượng nòng cốt tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong tuyên truyền, vận động, hòa giải và phản ánh tâm tư, nguyện vọng của đồng bào.
Đến ngày 1/9/2026, toàn tỉnh có 209 người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số. Đây là lực lượng góp phần đưa chủ trương, chính sách đến với người dân, đồng thời tạo cầu nối giữa cộng đồng với cấp ủy, chính quyền.

Tháo gỡ điểm nghẽn, phát huy nội lực của đồng bào
Dù đã đạt nhiều kết quả, phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi Khánh Hòa vẫn còn không ít khó khăn.
Theo báo cáo tổng kết, tốc độ phát triển tại một số địa bàn còn chậm so với mặt bằng chung của tỉnh. Đời sống một bộ phận người dân còn khó khăn, khả năng tiếp cận chính sách và các dịch vụ xã hội còn hạn chế, kết quả giảm nghèo chưa thực sự bền vững.
Đến cuối năm 2025, toàn tỉnh còn 3.095 hộ nghèo dân tộc thiểu số, chiếm 5,72% tổng số hộ dân tộc thiểu số; số hộ cận nghèo là 4.579 hộ, chiếm 8,46%.
Thiếu đất sản xuất, khó khăn về nguồn nước và tác động của biến đổi khí hậu tiếp tục ảnh hưởng đến sinh kế người dân. Trong khi đó, liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị, tiêu thụ nông sản và thu hút doanh nghiệp đầu tư vào vùng đồng bào dân tộc thiểu số chưa tương xứng với tiềm năng.
Việc giải quyết nhu cầu đất ở, đất sản xuất, bố trí tái định cư, hoàn thiện thủ tục đất đai và tiếp cận tín dụng ưu đãi tại một số địa bàn còn vướng mắc.
Sau sắp xếp đơn vị hành chính, những yêu cầu mới cũng đặt ra đối với công tác quản lý. Một số cán bộ cấp xã còn lúng túng trong tiếp nhận nhiệm vụ, xử lý nghiệp vụ; dữ liệu quản lý chưa được chuẩn hóa đầy đủ. Việc chuyển tiếp chính sách đối với những địa bàn thay đổi phân loại cần tiếp tục được rà soát, hướng dẫn.
Để chính sách dân tộc phát huy hiệu quả, Khánh Hòa xác định cần tiếp tục nâng cao trách nhiệm của hệ thống chính trị, triển khai đồng bộ các chủ trương, chính sách, đồng thời chú trọng tháo gỡ khó khăn ngay tại cơ sở.
Trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp, trách nhiệm của các sở, ngành và chính quyền cấp xã phải được phân định rõ ràng. Việc quản lý hồ sơ, nguồn vốn và đối tượng thụ hưởng cần bảo đảm liên tục, tránh bỏ sót hoặc trùng lặp hỗ trợ. Nguồn lực sẽ tiếp tục được ưu tiên cho các xã, thôn đặc biệt khó khăn và những công trình thiết yếu.
Đối với hỗ trợ sinh kế, cần chuyển mạnh từ hỗ trợ đơn lẻ sang kết hợp đồng bộ giữa kỹ thuật, tín dụng, đào tạo nghề và tiêu thụ sản phẩm. Những mô hình sản xuất được lựa chọn phải phù hợp điều kiện đất đai, nguồn nước, thị trường và khả năng tham gia của người dân.
Với những địa bàn thiếu quỹ đất sản xuất, chuyển đổi nghề gắn với việc làm ổn định là hướng đi cần được quan tâm. Đồng thời, cần theo dõi, có giải pháp chuyển tiếp đối với các hộ có nguy cơ gián đoạn thụ hưởng chính sách sau thay đổi phân định địa bàn, hạn chế tái nghèo.
Từ thực tiễn triển khai, Khánh Hòa cũng kiến nghị Trung ương xem xét mở rộng chính sách bảo trợ xã hội đối với những hộ nghèo không có khả năng thoát nghèo; có cơ chế hỗ trợ bảo hiểm y tế cho hộ vừa thoát nghèo, thoát cận nghèo.
Tỉnh đồng thời đề xuất chính sách đặc thù thu hút doanh nghiệp đầu tư vào vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, nhằm tạo thêm việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân.
Cùng với đó là chính sách phát triển nguồn nhân lực, thu hút cán bộ trẻ và đội ngũ khoa học, kỹ thuật đến công tác tại các địa bàn khó khăn.
Thực tiễn hơn hai thập kỷ triển khai chính sách dân tộc cho thấy, hiệu quả không chỉ phụ thuộc vào nguồn lực đầu tư mà còn ở cách tổ chức thực hiện và sự tham gia chủ động của người dân. Chính sách chỉ thực sự đi vào đời sống khi xuất phát từ nhu cầu của đồng bào, được thực hiện đúng đối tượng, đúng địa bàn và tạo ra những thay đổi có thể duy trì lâu dài.