
Những dấu ấn cắt giảm điều kiện kinh doanh
Trong 12 năm công tác pháp chế tại Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), tôi đã tham gia hai cuộc rà soát lớn vào năm 2016 và 2018. Hai đợt cải cách này mang lại kết quả khá tích cực. Cụ thể, năm 2016, VCCI đã đề xuất rà soát toàn bộ các điều kiện đầu tư kinh doanh nằm rải rác trong thông tư; nhiều điều kiện đã được cắt giảm, số còn lại được đưa vào nghị định.
Tháng 6/2016, trong đợt cắt giảm điều kiện đầu tư kinh doanh lớn nhất kể từ sau Đổi mới, tôi có dịp tham gia một cuộc họp thú vị xoay quanh câu hỏi: có nên cho doanh nghiệp tư nhân kinh doanh quân trang, quân dụng hay không, và nếu có thì quản lý như thế nào?

Nhiều ý kiến lo ngại rủi ro về an ninh, trật tự xã hội. Tuy nhiên, từ góc độ kinh tế, ai cũng thấy năng lực của các doanh nghiệp dệt may tư nhân Việt Nam thuộc nhóm cao trên thế giới. Nếu lực lượng này tham gia sản xuất quân trang, chi phí sẽ giảm, hiệu quả tăng.
Giải pháp cuối cùng là cho phép tư nhân tham gia nhưng kèm theo các biện pháp quản lý chặt chẽ về nguồn gốc nguyên liệu, kiểm soát sản phẩm, kể cả hàng lỗi, cùng với cơ chế giám sát của Nhà nước.
Chính sách được ban hành, doanh nghiệp tư nhân tham gia các gói thầu cung cấp quân trang cho Nhà nước. Điều đáng chú ý là các doanh nghiệp dệt may của quân đội, công an không bị đào thải như nhiều dự đoán, mà buộc phải đổi mới công nghệ, quản trị để cạnh tranh ngược lại với khu vực tư nhân.
Đây chỉ là một trong rất nhiều ví dụ cho thấy không gian cho kinh tế tư nhân tại Việt Nam ngày càng được mở rộng. Từ chỗ không được phép, doanh nghiệp tư nhân từng bước được tham gia vào các lĩnh vực như ngân hàng, hàng không, giáo dục, y tế, công chứng, đấu giá, kiểm nghiệm, hạ tầng giao thông, điện lực, và sắp tới là cả đường sắt cao tốc Bắc - Nam.
Bài học không mới nhưng luôn cần nhắc lại: thay vì cấm, hãy quản; thay vì đặc quyền, hãy cạnh tranh.
Tiếp đó, năm 2018, Bộ Công Thương chủ động cắt giảm 50% điều kiện đầu tư kinh doanh, Thủ tướng yêu cầu các bộ khác thực hiện tương tự. Nhiều quy định mập mờ đã bị loại bỏ, dù sau đó một số điều kiện lại tái xuất.
Ở thời điểm hiện nay, xuất hiện nhiều chuyển động mới đáng chú ý khi quá trình rà soát có sự chỉ đạo trực tiếp từ cấp cao nhất. Với việc Tổ giúp việc do Bộ Tư pháp làm đầu mối, cùng sự ủng hộ mạnh mẽ từ lãnh đạo cấp cao, những người trực tiếp thực thi cải cách có thêm sự tự tin để đề xuất các kiến nghị mà trước đây, khi các bộ tự rà soát, thường còn dè dặt.
Các thông điệp và hành động của Đảng, Chính phủ trong thời gian qua từ tầm nhìn về kỷ nguyên mới, các phát biểu chính sách tại Quốc hội đến những bài viết được công bố đã tạo thêm niềm tin và động lực cho đội ngũ đang trực tiếp rà soát, tháo gỡ các điểm nghẽn thể chế, mạnh dạn dấn thân vào cải cách thực chất.
Các chỉ đạo chính trị quyết liệt, các quan điểm tiến bộ được phát ra từ cấp cao nhất đang lan tỏa tới cấp thực thi. Chúng tôi nhận được nhiều ghi nhận rằng cán bộ bớt soi xét lặt vặt, phê duyệt dự án đầu tư rất nhanh. Chuyển động tích cực ấy diễn ra ngay cả khi quy định hiện hành chưa sửa đổi nhưng các quan điểm chỉ đạo mang tính cải cách từ cấp cao xuống đã thay đổi nhận thức và hành vi của cấp thừa hành.
Một ví dụ rất cụ thể, khi khả năng bỏ thủ tục chấp thuận chủ trương đầu tư vẫn đang ở vòng thảo luận thì ở một số địa phương, việc phê duyệt đã diễn ra rất nhanh, không còn mất nhiều thời gian như trước. Có thể các thủ tục đầu tư đã nhanh hơn trước nên tín dụng ngân hàng mới tăng mạnh được như vậy.
Rõ nhất là tốc độ sửa đổi pháp luật. Đến cuối năm có thể lên tới gần 400 nghị định. Việc sửa luật cũng rất khẩn trương, với mỗi kỳ họp Quốc hội xem xét hơn 30 dự án luật, nghị quyết. Tốc độ này là chưa có tiền lệ.
Về nội dung, những gì bị coi là điểm nghẽn ảnh hưởng đến sự phát triển của khoa học, công nghệ thì được tháo gỡ tối đa theo tinh thần Nghị quyết 57. Gần như hầu hết kiến nghị về tạo điều kiện thu hút các nhà khoa học, thuế hóa đơn liên quan đến phát triển công nghệ mới, đổi mới sáng tạo đều được chấp thuận.
Về cách làm, thành phần Ban Chỉ đạo 66 cho thấy sự ưu tiên cao độ cho công tác hoàn thiện thể chế. Cơ quan thường trực là Bộ Tư pháp tập trung đội ngũ rất giỏi và có tinh thần cải cách để thu thập kiến nghị, phản ánh từ cộng đồng doanh nghiệp. Một lãnh đạo bộ cho biết, đây là cách làm mới, bởi các cuộc rà soát pháp luật trước thường do cơ quan nhà nước tự làm, mà thường khi như thế sẽ rất khó cải cách đột phá được.
Thể chế cho doanh nghiệp tư nhân phát triển
Việt Nam là nền kinh tế chuyển đổi, nhưng không lựa chọn tư nhân hóa ồ ạt doanh nghiệp nhà nước. Cách tiếp cận này giúp Việt Nam tránh rơi vào “bẫy tư nhân hóa”, khi đặc quyền công bị chuyển thành đặc quyền tư, làm méo mó thị trường.
Thay vào đó, Việt Nam cho phép doanh nghiệp tư nhân tham gia vào các ngành, lĩnh vực vốn có doanh nghiệp nhà nước, đặt tất cả vào cùng một môi trường cạnh tranh. Doanh nghiệp nhà nước không bị loại bỏ, mà được cởi trói để cạnh tranh bình đẳng hơn.
Cách tiếp cận này tuy có chậm nhưng mang lại hiệu quả kinh tế bền vững hơn so với mô hình tư nhân hóa ồ ạt mà nhiều nước Đông Âu từng áp dụng. Dù vậy, quá trình này không phải lúc nào cũng suôn sẻ. Đã có những trường hợp doanh nghiệp tư nhân làm ăn chộp giật, lợi dụng kẽ hở chính sách, hoặc tham gia các dự án BOT gây bức xúc xã hội.
Tuy nhiên, phản ứng của Việt Nam không phải là đóng cửa khu vực tư nhân, mà là hoàn thiện thể chế. Luật PPP ra đời chính là một ví dụ. Quan điểm chủ đạo xuyên suốt là: Nhà nước can thiệp để khắc phục khuyết tật của kinh tế tư nhân, chứ không ngăn cản kinh tế tư nhân phát triển.
Khi kinh tế tư nhân đảm nhận nhiều vai trò hơn, Nhà nước không đứng ngoài, mà chuyển trọng tâm sang kiến tạo thể chế, xây dựng khuôn khổ để thị trường vận hành minh bạch, hiệu quả.
Không gian mới
Việc thảo luận dự án đường sắt cao tốc Bắc - Nam cho thấy một thay đổi lớn trong tư duy. Từ chỗ mặc định đầu tư công, nay phương án doanh nghiệp tư nhân tham gia đã trở thành lựa chọn nghiêm túc.
Với Nghị quyết 68 và dự thảo văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XIV, không gian cho kinh tế tư nhân sẽ tiếp tục được mở rộng. Còn rất nhiều lĩnh vực, dự án mà tư nhân có thể đảm đương, với điều kiện Nhà nước đủ năng lực quản lý.
Việt Nam đang bước vào kỷ nguyên phát triển mới, hướng tới tăng trưởng cao dựa trên khoa học, công nghệ, kinh tế tư nhân và thể chế hiện đại, trong bối cảnh kinh tế thế giới chuyển từ tự do sang bảo hộ. Điều này đòi hỏi Việt Nam phải sử dụng nhiều chính sách công nghiệp hơn và doanh nghiệp tư nhân cần chủ động tham gia cùng Nhà nước trong quá trình thiết kế chính sách.
Quản trị các chính sách công nghiệp không dễ, đòi hỏi cả Nhà nước và doanh nghiệp vừa trong sạch, vừa nhạy bén. Đó là cơ hội lớn, nhưng cũng là thách thức lớn trong quản trị quốc gia.
Việc Quốc hội bổ sung quy trình đầu tư đặc biệt vào Luật Đầu tư cho thấy quyết tâm đổi mới mạnh mẽ. Nhiều nhà đầu tư kỳ vọng đây sẽ không còn là “đặc biệt”, mà trở thành chuẩn mực chung trong tương lai.
Có thể thấy rõ rằng, điểm tựa quan trọng nhất để Việt Nam bước vào kỷ nguyên phát triển mới không chỉ nằm ở nguồn lực hay tốc độ tăng trưởng, mà ở năng lực kiến tạo thể chế của Nhà nước. Khi thể chế được thiết kế theo hướng minh bạch, ổn định, có khả năng thích ứng nhanh với thay đổi và giải phóng tối đa các nguồn lực trong xã hội, động lực phát triển sẽ được khơi thông trên diện rộng.
Nỗ lực cải cách thể chế hiện nay cho thấy tư duy quản lý đang chuyển mạnh từ “làm thay” sang “dẫn dắt”, từ kiểm soát sang kiến tạo. Đây chính là nền tảng để Việt Nam xây dựng một mô hình phát triển hiện đại, tự chủ và bền vững trong giai đoạn mới.
