Dù đã xây dựng công trình nước sạch, thế nhưng hàng trăm hộ đồng bào DTTS ở Nghệ An, Quảng Trị vẫn thiếu nước sinh hoạt. Một nghịch lý, công trình nước sạch tự chảy bỏ hoang trong khi người dân thiếu nước sinh hoạt.
Lời tòa soạn
Nước sinh hoạt là nhu cầu thiết yếu của mỗi gia đình, nhưng tại nhiều vùng miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, những hạn chế về điều kiện tự nhiên, hạ tầng và công tác quản lý, vận hành khiến bao năm nay, vào mùa khô, bài toán nước sinh hoạt vẫn luôn là nỗi lo thường trực.
Báo VietNamNet trân trọng gửi tới bạn đọc tuyến bài: “Giải ‘bài toán’ đưa nước sinh hoạt về miền núi”, phản ánh thực trạng, những khó khăn trong việc bảo đảm nguồn nước sinh hoạt và những vấn đề đặt ra từ thực tế, qua đó góp thêm góc nhìn về các giải pháp để người dân vùng miền núi được tiếp cận nguồn nước sạch, ổn định và bền vững.
Bể nước sinh hoạt ở bản Pà Khốm bỏ hoang. Trong khi đó, người dân lại thiếu nước sinh hoạt vào mùa khô. Ảnh: Phạm Tiến
Công trình có, nước lại không
Tại bản Phục, xã Quế Phong, tỉnh Nghệ An, công trình nước sinh hoạt tự chảy Khe Hồi Dương vẫn còn đó. Những bể chứa xây rải rác theo các cụm dân cư vẫn hiện diện. Nhưng nhiều năm nay, phần lớn đồng bào Thái trong bản không còn được hưởng lợi từ công trình.
Công trình được xây dựng từ năm 2004 bằng nguồn vốn Chương trình 135, phục vụ 174 hộ dân, gồm một bể thu nước và hệ thống đường ống dẫn về 12 bể chứa nhỏ trong bản.
Hiện chỉ còn 2 trong số 12 bể được người dân tận dụng, dẫn nguồn nước phụ từ khe suối về cấp cho 13 hộ. 10 bể còn lại đã bỏ hoang từ lâu.
Chị Ngân Thị Phượng, Trưởng bản Phục, cho biết công trình được xây dựng đã lâu, nhiều lần bị mưa lũ làm hư hỏng. Do không có kinh phí sửa chữa, từ năm 2007 đến nay công trình gần như không còn hoạt động.
Đây không phải trường hợp cá biệt. Dọc vùng Nậm Giải, xã Quế Phong, nhiều công trình nước tự chảy cũng chung cảnh ngộ. Bản Cáng có 3 bể chứa bị bỏ hoang; công trình cấp nước tại bản Tòng cũng đã ngừng hoạt động.
Điểm chung là phần lớn các công trình được xây dựng từ nhiều năm trước, sau thời gian sử dụng bị xuống cấp hoặc hư hỏng do thiên tai, nhưng thiếu nguồn lực duy tu, sửa chữa.
Ông Thò Bá Lý, Trưởng bản Pà Khốm, xã Tri Lễ (Nghệ An), chỉ vị trí bể thu nước bị lũ cuốn trôi. Ảnh: Phạm Tiến
Ngược lên bản Pà Khốm, xã Tri Lễ, nơi có 100 hộ đồng bào Mông sinh sống ở độ cao hơn 1.000m so với mực nước biển, câu chuyện cũng không khá hơn.
Theo Trưởng bản Thò Bá Lý, Nhà nước đã đầu tư 2 công trình nước sinh hoạt tự chảy. Công trình tại tổ Pà Khốm phục vụ 75 hộ, còn công trình tại tổ Piêng Luống cấp nước cho 25 hộ.
Tuy nhiên, tại đầu nguồn khe Pà Khốm, phần ngăn dòng của bể thu nước đã bị lũ cuốn trôi hoàn toàn. Để có nước sử dụng, người dân phải tự ngăn dòng ở một nguồn nước phụ rồi tìm cách dẫn về bản.
“Trận lũ năm 2023 đã cuốn trôi bờ ngăn bể thu nước. Không có kinh phí xây lại nên công trình bỏ không từ đó đến nay. Công trình ở tổ Piêng Luống hiện cũng hoạt động không hiệu quả”, ông Thò Bá Lý nói.
Ở bản Minh Châu, xã Tri Lễ, nơi có 368 hộ đồng bào Mông, Thái và Khơ Mú sinh sống, Nhà nước cũng đã đầu tư 2 công trình nước sinh hoạt tự chảy. Nhưng đến nay, công trình tại tổ Đ1 đã hư hỏng, khiến 75 hộ không còn nguồn nước ổn định.
Chị Lương Thị Hòe, người Khơ Mú ở bản Minh Châu, cho biết từ tháng 3 đến tháng 6 hằng năm, gia đình chị phải vào khe suối trong rừng lấy nước. Ngay cả mùa mưa, nước về bản cũng thất thường do đường ống thường xuyên bị tắc, vỡ.
Người dân từng tính phương án khoan giếng, nhưng địa hình đá vôi khiến nguồn nước ngầm nhiễm phèn, không thể sử dụng.
Đồng bào Mông ở bản Pà Khốm ngăn dòng phụ bằng đá để dẫn nước về bản. Ảnh: Phạm Tiến
Công trình 4 tỷ đồng, hơn 100 hộ vẫn thiếu nước
Nếu nhiều công trình ở Nghệ An không còn hoạt động do đã xây dựng lâu năm, xuống cấp và bị thiên tai tàn phá, thì tại Quảng Trị, có công trình mới được đầu tư nhưng hiệu quả cấp nước vẫn chưa đạt yêu cầu.
Theo UBND xã miền núi Tân Thành, trên địa bàn hiện có 4 công trình nước sinh hoạt tự chảy. Tuy nhiên, có công trình đã xuống cấp; có công trình mới xây nhưng vẫn không đủ nước cấp cho người dân.
Công trình nước sinh hoạt tự chảy ở thôn Hóa Thanh, xã Tân Thành, tỉnh Quảng Trị được đầu tư 4 tỷ đồng nhưng hoạt động chưa hiệu quả. Ảnh: Phạm Tiến
Điển hình là công trình cấp nước thôn Hóa Thanh, được xây dựng năm 2024 với tổng mức đầu tư 4 tỷ đồng từ Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2025.
Thế nhưng, trong mùa khô năm 2025 và 2026, hơn 100 hộ dân vẫn không có nước từ công trình để sử dụng. 137 hộ còn lại cũng phải chia thời gian lấy nước.
Bà Cao Thị Kiều, Trưởng thôn Hóa Thanh, cho biết thôn có 237 hộ thuộc diện sử dụng nguồn nước từ công trình cấp nước tập trung, nhưng thực tế nước chỉ đến được 137 hộ. Khoảng 100 hộ ở vị trí cao không được hưởng lợi.
Không chỉ Tân Thành, tình trạng thiếu nước sinh hoạt vào mùa khô còn xảy ra tại nhiều khu vực có đông đồng bào dân tộc thiểu số như Kiêm Điền, Dân Hóa, Khe Sanh...
Những con số ấy cho thấy một thực tế đáng suy nghĩ: có công trình chưa đồng nghĩa với có nước; hoàn thành đầu tư chưa đồng nghĩa với hoàn thành mục tiêu cấp nước cho người dân.
Vì sao có công trình mà nước vẫn thiếu?
Từ thực tế Nghệ An và Quảng Trị, tình trạng trên xuất phát từ cả nguyên nhân khách quan lẫn những bất cập trong đầu tư, quản lý và vận hành.
Trước hết là tác động của thiên tai và điều kiện tự nhiên khắc nghiệt. Phần lớn công trình nước tự chảy vùng cao phụ thuộc trực tiếp vào khe, suối và nguồn nước mặt. Mưa lũ có thể cuốn trôi đập đầu mối, bể thu, phá hỏng đường ống; trong khi mùa khô kéo dài lại khiến nguồn sinh thủy suy giảm, thậm chí cạn kiệt.
Ông Thò Bá Xô, Trưởng bản Minh Châu kiểm tra bể nước để có biện pháp sửa chữa tạm. Ảnh: Phạm Tiến
Một số công trình được đầu tư nhưng khả năng thích ứng với biến động nguồn nước và điều kiện khí hậu chưa cao. Khi nguồn nước suy giảm hoặc nhu cầu sử dụng tăng lên, hệ thống nhanh chóng rơi vào tình trạng quá tải hoặc thiếu nước.
Công trình Hóa Thanh là một ví dụ. Dù mới được xây dựng, nước vẫn không thể cấp đầy đủ cho toàn bộ 237 hộ, nhất là các hộ ở vị trí cao. Thực tế này cho thấy cần xem xét kỹ hơn các yếu tố từ khâu khảo sát nguồn nước, thiết kế công suất, cao độ, mạng lưới phân phối đến khả năng đáp ứng trong mùa khô.
Một “điểm nghẽn” khác là cơ chế quản lý, duy tu và bảo dưỡng sau đầu tư.
Nhiều công trình sau khi hoàn thành được đưa vào sử dụng nhưng kinh phí dành cho bảo dưỡng, sửa chữa thường xuyên còn hạn chế. Trường hợp ở bản Phục hay Pà Khốm cho thấy vấn đề không chỉ nằm ở việc công trình đã cũ, mà còn ở chỗ khi hư hỏng, nguồn kinh phí và trách nhiệm sửa chữa chưa được xác định rõ.
Theo ông Lâm Duy Thưởng, Giám đốc Trung tâm Nước sạch và Vệ sinh môi trường nông thôn Nghệ An, từ nguồn vốn Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2025, Nghệ An được bố trí 100 tỷ đồng thực hiện Tiểu dự án giải quyết tình trạng thiếu nước sinh hoạt thuộc Dự án 1.
Từ nguồn lực này, hơn 100 công trình cấp nước sinh hoạt tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đã được xây dựng.
Dù nhà ở gần bể nước tự chảy, chị Lương Thị Hòe ở bản Minh Châu, xã Tri Lễ vẫn thường xuyên phải đi xa lấy nước về sử dụng. Ảnh: Phạm Tiến
Tuy nhiên, nguồn lực đầu tư trên vẫn chưa thể giải quyết triệt để tình trạng thiếu nước tại nhiều địa bàn miền núi Nghệ An.
Tại Quảng Trị, nhu cầu đầu tư cho nước sinh hoạt cũng rất lớn. Theo số liệu tổng hợp thực hiện mục tiêu cấp nước sạch đạt quy chuẩn giai đoạn 2026-2030, tỉnh đã đưa 43 công trình vào danh sách cần xây mới, sửa chữa, với tổng mức đầu tư hơn 2.450 tỷ đồng.
Trong đó, 22 công trình dự kiến sử dụng ngân sách địa phương và vốn chương trình mục tiêu quốc gia; 17 công trình đề nghị ngân sách Trung ương bổ sung và 4 công trình sử dụng các nguồn vốn khác.
Thực tế tại Nghệ An và Quảng Trị cho thấy, để giải quyết bền vững bài toán nước sinh hoạt cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, vấn đề không chỉ là tiếp tục xây thêm công trình.
Quan trọng hơn là phải bảo đảm đúng nguồn nước, đúng thiết kế, có đơn vị quản lý, có kinh phí duy tu và có phương án vận hành phù hợp với điều kiện từng địa bàn. Nếu những khâu này không được giải quyết đồng bộ, nguy cơ những công trình tiền tỷ tiếp tục rơi vào cảnh “có bể mà không có nước” vẫn sẽ còn lặp lại.