Không chỉ ghi dấu, cụ thể hóa chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước, công tác dân tộc còn được tạo dựng từ sự tận tụy của nhiều thế hệ cán bộ gắn bó với đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) và miền núi. VietNamNet lược ghi một số ý kiến của nguyên lãnh đạo, cán bộ Ủy ban Dân tộc (nay là Bộ Dân tộc và Tôn giáo).

TS Bế Trường Thành, nguyên Phó Chủ nhiệm Thường trực Ủy ban Dân tộc: 80 năm phát triển của cơ quan công tác dân tộc gắn với nhiều dấu ấn đặc thù

Là người có hơn 20 năm công tác và nhiều nhiệm kỳ giữ cương vị lãnh đạo tại Ủy ban Dân tộc, TS Bế Trường Thành chứng kiến nhiều thay đổi lớn về tổ chức bộ máy cũng như quá trình hoàn thiện chính sách dân tộc qua từng thời kỳ.

W-z7818141642098_b8194d110efd3bf732cec5cafa02bf44.jpg
TS Bế Trường Thành, nguyên Phó Chủ nhiệm Thường trực Uỷ ban Dân tộc

Cơ quan công tác dân tộc đã trải qua nhiều lần thay đổi tên gọi và mô hình tổ chức. Từ Nha Dân tộc thiểu số năm 1946, đến năm 1947 là Tổ Nghiên cứu Dân tộc thuộc Ban Dân vận Trung ương do đồng chí Hoàng Quốc Việt phụ trách; năm 1955 là Tiểu ban Dân tộc thuộc Ban Nội chính thuộc Thủ tướng Phủ (nay là Văn phòng Chính phủ). Đến năm 1958 thành lập Ủy ban Dân tộc là cơ quan ngang bộ thuộc Hội đồng Chính phủ. 

Thời gian từ 1990-1992 là Văn phòng Miền núi và Dân tộc trực thuộc Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ). Tháng 10/1992, Bộ Chính trị quyết định hợp nhất Văn phòng Miền núi và Dân tộc với Ban Dân tộc Trung ương để thành lập Ủy ban Dân tộc và Miền núi. 10 năm sau, ngày 5/8/2002 (Kỳ họp thứ I, Quốc hội khóa XI), cơ quan trở lại tên gọi Ủy ban Dân tộc.

Ngày 14/10/2008, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1491/QĐ-TTg, lấy ngày 3/5 hằng năm làm Ngày Truyền thống của cơ quan quản lý nhà nước về lĩnh vực công tác dân tộc. Đây là dấu mốc gắn với sự kiện ngày 3/5/1946 khi Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 58 về tổ chức Bộ Nội vụ, trong đó có Nha Dân tộc thiểu số - tiền thân của hệ thống cơ quan công tác dân tộc hiện nay.

Trải qua nhiều giai đoạn điều chỉnh tổ chức, đến năm 2002, cơ quan công tác dân tộc trở lại tên gọi Ủy ban Dân tộc. Ngày 1/3/2025, Bộ Dân tộc và Tôn giáo được thành lập theo Nghị quyết số 176/2025/QH15 của Quốc hội, trên cơ sở Ủy ban Dân tộc và tiếp nhận chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước về tôn giáo từ Bộ Nội vụ.

TS Bế Trường Thành nhấn mạnh, một trong những đặc thù nổi bật nhất của công tác dân tộc là trong thời gian dài tồn tại song song ba cơ quan ở Trung ương, gồm Ban Dân tộc Trung ương của Đảng, Ủy ban Dân tộc của Chính phủ và Uỷ ban  dân tộc của Quốc hội (từ khóa II đến khóa VI; từ khóa VII đến nay là Hội đồng Dân tộc của Quốc hội).

Đặc biệt, giai đoạn 1959-1987, mô hình tổ chức giữa Ban Dân tộc Trung ương và Ủy ban Dân tộc Chính phủ mang tính đặc thù rất cao. Dù là hai cơ quan độc lập, có con dấu riêng, văn phòng riêng, biên chế cán bộ và quỹ lương riêng nhưng có chung trụ sở tại số 80-82 Phan Đình Phùng (Hà Nội) và có chung một người đứng đầu. Trưởng ban đồng thời là Chủ nhiệm Ủy ban. Giai đoạn 1959-1960, một người đứng đầu cả ba cơ quan: Ban Dân tộc Trung ương, Ủy ban Dân tộc Chính phủ và Uỷ ban Dân tộc của Quốc hội. 

Theo TS Bế Trường Thành, tính đặc thù còn thể hiện rõ trong cơ chế phối hợp giữa cơ quan Đảng và Chính phủ. Thông báo số 13/TB-TW ngày 3/6/1976 của Ban Bí thư về công tác dân tộc nêu rõ: “…Trong tình hình hiện nay, cơ quan Ban Dân tộc Trung ương và Ủy ban Dân tộc Chính phủ lồng vào nhau”. Nghị định số 11/CP  ngày 20/2/1993 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban Dân tộc và Miền núi là cơ quan ngang bộ của Chính phủ, có chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực công tác dân tộc và miền núi trong phạm vi cả nước; đồng thời ở Trung ương là cơ quan tham mưu cho Trung ương Đảng như một ban của Đảng ở Trung ương.

Một đặc thù khác là lãnh đạo Ủy ban Dân tộc có các ủy viên là lãnh đạo một số bộ, ngành như: Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội, Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ, Bộ Văn hóa-Thông tin, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Phó Trưởng ban Tôn giáo Chính phủ... 

Nhắc lại những dấu ấn quan trọng  của cơ quan công tác dân tộc, TS Bế Trường Thành cho biết: Dấu ấn đầu tiên là việc Chính phủ thành lập Văn phòng Miền núi và Dân tộc năm 1990, đánh dấu sự tái lập cơ quan quản lý nhà nước về công tác dân tộc sau 3 năm gián đoạn. Nhiều chương trình lớn đã được hình thành và triển khai, như: Chương trình 134 hỗ trợ nhà ở, đất ở, đất sản xuất và nước sinh hoạt; Chương trình 135 phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn; và sau này là Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi.

Dấu ấn thứ hai là công tác đào tạo và xây dựng đội ngũ cán bộ người DTTS. Ngay từ những ngày đầu, Nha Dân tộc thiểu số đã mở trường đào tạo cán bộ dân tộc mang tên Nùng Trí Cao, khóa học đầu tiên từng được Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm.

W-z7823818191851_d283076e78deb4f1bfa2f610e4e19bcc (1).jpg
TS Bế Trường Thành, nguyên Phó Chủ nhiệm Thường trực Uỷ ban Dân tộc (thứ hai, từ phải qua) và nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc Lù Văn Que (thứ hai, từ trái qua) tham quan gian trưng bày Báo Dân tộc và Phát triển (hiện nay là chuyên trang của Báo VietNamNet) kỷ niệm 20 năm ngày phát hành số báo đầu tiên vào năm 2022.

Trong kháng chiến, các lớp huấn luyện cán bộ vùng đồng bào DTTS tiếp tục được duy trì và mở rộng. Đặc biệt, năm 1959, Khu đào tạo cán bộ dân tộc miền Nam trực thuộc Ủy ban Dân tộc được thành lập theo Nghị định số 349/CP của Chính phủ.

Đây là mô hình đào tạo rất đặc thù, không giống hệ thống giáo dục phổ thông hay mô hình trường thiếu sinh quân của Bộ Quốc phòng và Bộ Công an. Mục tiêu cốt lõi là đào tạo đội ngũ cán bộ người DTTS phục vụ trực tiếp cho công tác dân tộc và sự phát triển vùng đồng bào DTTS và miền núi.

Hệ thống đào tạo tiếp tục được củng cố, phát triển từ Trung tâm Bồi dưỡng cán bộ dân tộc, Trường Đào tạo nghiệp vụ công tác dân tộc đến Học viện Dân tộc hiện nay. 

Bà Hoàng Thị Hạnh, nguyên Thứ trưởng, Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Dân tộc: Sau 80 năm, điều quý nhất là thấy bản làng đổi thay từng ngày

Sinh ra và lớn lên ở vùng đồng bào DTTS của tỉnh Yên Bái cũ (nay là Lào Cai), gần 40 năm công tác của bà Hoàng Thị Hạnh gắn liền với công tác dân tộc. Từ một cô giáo vùng cao đến cương vị lãnh đạo tại Ủy ban Dân tộc, hành trình ấy với nguyên Thứ trưởng, Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Dân tộc Hoàng Thị Hạnh không chỉ là công việc, mà còn là sự gắn bó máu thịt với đồng bào và quê hương miền núi.

W-uploads 2024 thang 10 ngay 17 1727940409650 z5939672422861_5333bea5b9dcbfc2ce7219109cb68dd6.jpg
Bà Hoàng Thị Hạnh, nguyên Thứ trưởng, Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Dân tộc.

Trong ký ức của bà vẫn còn nguyên những chuyến đi dài men theo các sườn núi Tây Bắc hay những lần vượt đường xa vào bản vận động người dân thay đổi tập quán canh tác. Và những đêm ngồi bên bếp lửa nghe bà con tâm sự chuyện đời sống, chuyện làm ăn.

Theo bà Hoàng Thị Hạnh, điều khiến bà xúc động nhất sau nhiều năm công tác không phải những danh hiệu hay huân chương, mà là sự đổi thay hiện hữu ở các bản làng vùng cao. Đó là những mái trường ngày càng đông học sinh, những cây cầu nối đôi bờ giúp người dân đi lại thuận lợi hơn, hay những bản làng từng khó khăn nay đã biết làm du lịch cộng đồng, phát triển kinh tế từ chính bản sắc văn hóa của mình.

"Nhớ những năm 1980, khi người Thái ở Mường Lò còn quen với tập quán làm một vụ lúa, cán bộ phải kiên trì xuống từng bản vận động bà con chuyển sang làm hai vụ, rồi ba vụ. Hay ở Trạm Tấu, Yên Bái, đồng bào Mông từng sống phụ thuộc vào cây thuốc phiện. Đến nay, đã chuyển sang trồng rừng, trồng cây ăn quả để phát triển kinh tế bền vững" - nguyên Thứ trưởng, Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Dân tộc Hoàng Thị Hạnh nhớ lại.

Theo bà, niềm vui lớn nhất của người làm công tác dân tộc là thấy chính sách thực sự đi vào cuộc sống, giúp người dân có sinh kế ổn định và thêm niềm tin vào tương lai.

Trong thời gian công tác tại Ủy ban Dân tộc, trên cương vị lãnh đạo, nguyên Thứ trưởng, Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Dân tộc Hoàng Thị Hạnh luôn dành nhiều tâm huyết cho vùng đồng bào DTTS và miền núi. Để hiểu rõ hiệu quả của chính sách, bà đã đi qua hầu hết các tuyến đường vùng Tây Bắc, đến nhiều đồn biên phòng dọc biên giới để thăm hỏi, động viên đồng bào DTTS và cán bộ cơ sở.

Mỗi chuyến đi không chỉ giúp bà trực tiếp cảm nhận những đổi thay trong đời sống người dân mà còn nhận ra những khó khăn, bất cập để kịp thời tham mưu điều chỉnh chính sách phù hợp hơn với thực tiễn.

Những năm gần đây, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước dành cho vùng đồng bào DTTS và miền núi ngày càng toàn diện hơn, đặc biệt là Chương trình Mục tiêu Quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi giai đoạn 2021-2025 đã tạo chuyển biến rõ nét trong đời sống kinh tế - xã hội ở vùng đồng bào DTTS và miền núi.

Nếu trước đây nhiều nơi còn tâm lý trông chờ, ỷ lại, phụ thuộc vào chính sách thì nay người dân đã chủ động hơn trong tiếp cận chính sách, tham gia phát triển kinh tế và xây dựng đời sống mới. Đặc biệt, việc lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong các chương trình, dự án, chính sách dân tộc đã tạo chuyển biến tích cực trong nhận thức của phụ nữ vùng DTTS.

W-z7824655687005_714d1bb85429eab466e3cedd78fb6255.jpg
Bà Hoàng Thị Hạnh tặng quà Tết đồng bào DTTS khó khăn tại xã Quảng Đức, huyện Hải Hà, tỉnh Quảng Ninh năm 2021 (Ảnh: Minh Thu)

"Một chính sách đúng phải giải quyết được những vấn đề cốt lõi như hạ tầng đồng bộ, sinh kế bền vững và giữ gìn bản sắc văn hóa. Quan trọng hơn, chính sách cần tạo động lực để đồng bào phát huy nội lực, biến tiềm năng của vùng DTTS và miền núi thành lợi thế phát triển", bà Hạnh nhìn nhận.

Hiện nay, dù đã nghỉ công tác, bà vẫn tiếp tục tham gia các hoạt động xã hội phù hợp và dành nhiều tâm huyết truyền kinh nghiệm cho lớp cán bộ trẻ.

Theo bà, làm công tác dân tộc không chỉ cần năng lực mà còn phải thật sự hiểu, tin và yêu thương đồng bào; luôn ghi nhớ tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc và nâng cao đời sống nhân dân.

Bà Nguyễn Thị Tư, nguyên Vụ trưởng Vụ Dân tộc Thiểu số, Ủy ban Dân tộc: Chính sách được xây dựng từ thực tiễn đã làm đổi thay cuộc sống đồng bào

20 năm gắn bó với công tác dân tộc là quãng thời gian để lại nhiều dấu ấn sâu sắc đối với bà Nguyễn Thị Tư, nguyên Vụ trưởng Vụ Dân tộc Thiểu số, Ủy ban Dân tộc. Đặc biệt, trong quá trình công tác, bà đã  trực tiếp tham gia xây dựng và triển khai các chính sách liên quan đến phụ nữ và trẻ em gái người DTTS.

W-z7825007704191_223d6aadc31e7d35a81cb24e5545041b.jpg
Bà Nguyễn Thị Tư, nguyên Vụ trưởng Vụ Dân tộc Thiểu số, Uỷ ban Dân tộc

Trước khi chuyển sang công tác tại Ủy ban Dân tộc, bà Nguyễn Thị Tư từng có gần 8 năm làm việc trong ngành y sau khi tốt nghiệp đại học. Thời điểm mới chuyển ngành, cũng có không ít băn khoăn và tiếc nuối, nhưng càng làm việc, bà càng nhận thấy đây là môi trường rất ý nghĩa, bởi được trực tiếp tham gia xây dựng chính sách cho chính đồng bào DTTS của mình.

Quá trình công tác tại cơ sở giúp bà nhận ra một thực tế rõ ràng: Đồng bào DTTS là nhóm dễ bị tổn thương, có nguy cơ bị bỏ lại phía sau trong quá trình phát triển, trong đó phụ nữ và trẻ em gái chịu nhiều thiệt thòi hơn cả.

Từ thực tiễn đó, khi công tác tại Vụ Dân tộc Thiểu số, bà cùng tập thể cán bộ đã nghiên cứu, tham mưu xây dựng Đề án giảm thiểu tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống trong vùng đồng bào DTTS.

Để xây dựng được đề án, cán bộ trong đơn vị đã phải đi thực tế ở nhiều địa phương vùng sâu, vùng xa; có những chuyến đi bộ hàng chục cây số vào tận bản làng để gặp gỡ người có uy tín, trưởng bản và tìm hiểu đời sống của người dân. Những chuyến đi đó giúp cán bộ tận mắt chứng kiến những khó khăn, thiệt thòi của trẻ em gái DTTS.

Bà Nguyễn Thị Tư nhớ lại: Có những trường hợp các em mới 15 - 16 tuổi đã sớm trở thành mẹ của hai, ba con nhỏ. Ở nhiều nơi, điều kiện sống còn rất thiếu thốn, trẻ em mùa đông không đủ áo ấm, vẫn đi chân đất đến trường. Những hình ảnh ấy đã để lại trong bà và đồng nghiệp nhiều trăn trở, thôi thúc phải xây dựng bằng được một chính sách có tính can thiệp thiết thực, bền vững.

W-z7818141642912_dbd245ff5dfbde0862e029a53bea05f9.jpg
Bà Nguyễn Thị Tư (đứng giữa) trò chuyện cùng đại biểu tham dự Đại hội đại biểu toàn quốc các DTTS Việt Nam lần thứ II, năm 2020

Sau quá trình nghiên cứu, Đề án đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo Quyết định số 498 ngày 14/5/2015. Việc Đề án được thông qua và triển khai tại nhiều địa phương đã tạo ra những chuyển biến rõ rệt, góp phần từng bước giảm thiểu tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống, nhất là ở vùng sâu, vùng xa và các địa bàn có tỷ lệ cao.

Nhìn lại hơn 20 năm làm việc, bà Tư nhìn nhận đội ngũ cán bộ ngày càng phát triển cả về số lượng và chất lượng, đặc biệt là sự gia tăng của đội ngũ cán bộ người DTTS trong hệ thống.

W-z7775519474968_0788bf6a91285868b801ca35d1712372 (1).jpg
Trải qua 80 năm hình thành và phát triển, cơ quan quản lý nhà nước về công tác dân tộc đã khẳng định vai trò chiến lược trong việc củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc (Ảnh: Vũ Mừng).

Nhân dịp kỷ niệm 80 năm Ngày truyền thống cơ quan quản lý nhà nước về công tác dân tộc, bà Nguyễn Thị Tư bày tỏ mong muốn Bộ Dân tộc và Tôn giáo tiếp tục phát huy vai trò, tham mưu nhiều chính sách sát thực tiễn hơn nữa, đặc biệt quan tâm đến phụ nữ và trẻ em gái DTTS. Đồng thời, sẽ có thêm nhiều cán bộ là người DTTS tham gia lãnh đạo, quản lý để tiếng nói của đồng bào được phản ánh đầy đủ và sâu sắc hơn trong quá trình hoạch định các chính sách phát triển.

Dòng chảy 80 năm ngành công tác dân tộcTừ Nha Dân tộc thiểu số năm 1946 đến Bộ Dân tộc và Tôn giáo năm 2025, dòng chảy 80 năm ấy là minh chứng cho vai trò “cầu nối” giữa Đảng, Nhà nước với đồng bào các dân tộc của ngành công tác dân tộc.