Các chứng tích lịch sử, pháp lý về chủ quyền của Việt Nam với quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa

Trong hệ thống những tư liệu của triển lãm "Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam, những bằng chứng lịch sử và pháp lý" được Bộ TT&TT trưng bày, giới thiệu tại nhiều địa phương trong cả nước, có một phần tư liệu quan trọng.

Nước Việt Nam có diện tích đất liền là 331.212km2 (đứng thứ 65 trên 200 quốc gia và vùng lãnh thổ), có bờ biển dài 3.260km.

Biển có vùng nội thủy, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa với diện tích khoảng trên 1 triệu km2, trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, và hàng nghìn hòn đảo lớn nhỏ gần và xa bờ. 

Quần đảo Hoàng Sa nằm ở vĩ độ 15O45' đến 17O15' Bắc, kinh độ111o đến 113o Đông, cách đảo Lý Sơn, Quảng Ngãi khoảng 120 hải lý; là một quần đảo đá san hô, cồn, bãi cát gồm hơn 30 hòn đảo, nằm trên vùng biển rộng từ Tây sang Đông khoảng 100 hải lý, từ Bắc xuống Nam khoảng 85 hải lý, diện tích chừng15.000km2.

Quần đảo Trường Sa có tên tiếng Anh là Spratley Islands nằm ở phía nam Biển Đông, trong phạm vi từ 6o50’N đến 12o00’N và từ 111o20’E đến 117o20’E. Theo phương Tây Bắc – Đông Nam, có chiều rộng khoảng 400 km và theo phương Đông Bắc- Tây Nam rộng khoảng 900 km. Điểm gần nhất của quần đảo cách Vũng Tàu khoảng 340 hải lý và cách Cam Ranh khoảng 250 hải lý. Quần đảo Trường Sa có khoảng trên 150 đảo nổi, chìm lớn nhỏ với diện tích các đảo nổi vào khoảng 10 km2. Về mặt hành chính quần đảo Trường Sa là một huyện thuộc tỉnh Khánh Hòa: huyện đảo Trường Sa.

{keywords}
Những tư liệu khẳng định chủ quyền Hoàng Sa của Chính phủ Việt Nam Cộng hòa được trưng bày tại Nhà văn hóa tỉnh Quãng Ngãi năm 2014.

Trong hệ thống những tư liệu của triển lãm "Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam, những bằng chứng lịch sử và pháp lý" được Bộ Thông tin Truyền thông trưng bày, giới thiệu tại nhiều địa phương trong cả nước thời gian qua, có một phần tư liệu quan trọng minh chứng chủ quyền đối với Hoàng Sa thời kỳ Việt Nam Cộng hòa.

Những tư liệu này bao gồm các văn bản, quyết định hành chính, các chỉ thị, tờ trình... của các cơ quan ban ngành của Chính phủ Việt Nam Cộng hòa liên quan đến việc điều động binh lính, cắt cử công chức... ra làm nhiệm vụ tại quần đảo Hoàng Sa, giai đoạn trước năm 1975.

GS.TS Nguyễn Quang Ngọc, Chủ tịch Hội đồng thẩm định các hiện vật, chứng tích lịch sử, pháp lý về chủ quyền của hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam,  đánh giá những tư liệu trưng bày về chủ quyền Hoàng Sa thời kỳ Việt Nam Cộng hòa có vai trò quan trọng.

"Chúng ta đánh giá và nhìn nhận chúng dưới góc độ chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa, Trường Sa để thấy được tầm quan trọng của những tư liệu đó. Chính quyền Việt Nam Cộng hòa theo Hiệp định Genève năm 1954 mới là chủ thể quản lý khu vực từ vĩ tuyến 17 trở vào Nam, trong thực tế đã có nhiều hoạt động, cả trên lĩnh vực quân sự và dân sự để thực thi chủ quyền của mình ở Hoàng Sa và Trường Sa.

Nó cho thấy, việc quản lý đối với Hoàng Sa, Trường Sa của chính quyền Việt Nam Cộng hòa cũng giống như với những vùng khác trên đất liền, rất bình thường. Điều đó nói lên rằng, Hoàng Sa, Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam là một quá trình lịch sử liên tục và hoàn toàn phù hợp với nguyên tắc thụ đắc lãnh thổ của luật pháp quốc tế" - GS.TS Nguyễn Quang Ngọc đánh giá.

Ông Ngọc lý giải: Theo lịch sử hiện đại, trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của thực dân Pháp, năm 1947, Pháp lập Chính phủ Liên hiệp Pháp (gọi là Chính phủ Quốc gia Việt Nam) do Bảo Đại đứng đầu.

Năm 1949, Tổng thống Vincent Auriol của Pháp ký Sắc luật giao Nam Kỳ cho Chính phủ Quốc gia Việt Nam. Năm 1951, tại Hội nghị San Francisco, ông Trần Văn Hữu, Thủ tướng Chính phủ Quốc gia Việt Nam kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao đã khẳng định chủ quyền đã có từ lâu đời của Việt Nam trên hai quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa. Khi ấy, hơn 50 nước tham dự hội nghị, không nước nào hoài nghi hay phản đối tuyên bố của Việt Nam.

Khi Pháp rút khỏi Việt Nam, theo Hiệp định Genève năm 1954, đối tượng được thừa hưởng, thừa kế toàn bộ Hoàng Sa, Trường Sa là Chính phủ Quốc gia Việt Nam, sau này là Chính phủ Việt Nam Cộng hòa của Tổng thống Ngô Đình Diệm.

GS.TS Nguyễn Quang Ngọc nhận xét: "Phải nói ngay từ thời kỳ đó, Việt Nam Cộng hòa đã chú trọng xây dựng hải quân mạnh. Chính phủ Việt Nam Cộng hòa khi đó cũng đã có nhiều quyết sách thể hiện vai trò quản lý của mình trên hai quần đảo này.

Họ cử quân đội ra coi giữ, xây dựng bia chủ quyền, các hoạt động quân sự, dân sự ở đó... Đó là những tư liệu rất phong phú và rõ ràng khẳng định chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa và Trường Sa".

Những tư liệu thể hiện việc quản lý của chính phủ Việt Nam Cộng hòa đối với Hoàng Sa chủ yếu được lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia 2 tại thành phố Hồ Chí Minh. Một phần được lưu trữ tại UBND huyện Hoàng Sa, T.P Đà Nẵng.

Đó là những lệnh điều động quân nhân hay viên chức dân sự của chính quyền Việt Nam Cộng hòa ra trấn giữ đảo Hoàng Sa, danh sách thay quân, danh mục trang thiết bị đưa ra Hoàng Sa, nhật ký ghi chép thời tiết, lịch đo biểu đồ thời tiết trên Hoàng Sa, Trường Sa trước năm 1975, v.v...

Chẳng hạn, trong số các tư liệu được trưng bày có "sự vụ lệnh" (lệnh điều động) do chỉ huy Việt Nam Cộng hòa điều động quân nhân ra thay quân trấn giữ ở quần đảo Hoàng Sa vào năm 1969; hình ảnh những chiến sỹ hải quân của quân lực Việt Nam Cộng hòa hy sinh trong cuộc chiến đấu chống quân Trung Quốc vào ngày 19/1/1974; danh sách quân nhân Việt Nam Cộng hòa thuộc Trung đội Hoàng Sa đợt 38 mãn nhiệm kỳ công tác được trở về đất liền nhận công tác tại Tiểu khu Quảng Nam vào năm 1970; Phiếu trình của Bộ Nội vụ gửi Phủ Thủ tướng Việt Nam Cộng hòa về việc sáp nhập các đảo Hoàng Sa, Trường Sa vào đơn vị hành chính nội địa (ngày 25/1/1973)...

Cũng theo GS.TS Nguyễn Quang Ngọc "Những tài liệu tương tự như thế của Chính quyền Việt Nam Cộng hòa còn rất nhiều, chúng ta mới chỉ công bố chỗ này chỗ kia một một phần mà thôi. Cũng đã có một số công trình nghiên cứu, luận văn, luận án khai thác một phần tư liệu liên quan tới chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa và Trường Sa trong giai đoạn lịch sử này, nhưng trong thực tế chưa có những nghiên cứu đầy đủ và sâu sắc".

"Điều quan trọng nhất, những tư liệu đó nói lên rằng, chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa thuộc Việt Nam, và được tất cả nhà nước Việt Nam, các thể chế chính trị khác nhau, thuộc tất cả các giai đoạn lịch sử trong nhiều thế kỷ liên tục đều trách nhiệm và tâm huyết gìn giữ, khai thác và bảo vệ" - GS.TS Nguyễn Quang Ngọc khẳng định.

Hà Yên

Ảnh: Thảo Hiền

tin nổi bật

Cuộc đại khẩn hoang dưới sự chỉ huy của Doanh điền sứ Nguyễn Công Trứ

Dưới sự tổ chức và chỉ huy của Doanh điền sứ Nguyễn Công Trứ, cuộc khẩn hoang quy mô lớn ở bãi Tiền Châu được tiến hành, đánh dấu bước phát triển nhảy vọt trong lịch sử khai hoang ở Việt Nam.

Tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của LHQ góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế

Năm 2021 đánh dấu nhiều kết quả nổi bật của Việt Nam khi tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc, đồng thời Việt Nam cũng chính thức kết thúc nhiệm kỳ Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an LHQ vào ngày 31/12.

Xây dựng quân đội “tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại”

Xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc để năm 2030 xây dựng Quân đội hiện đại là chủ trương lớn, được tính toán cẩn trọng, có tính khả thi cao ở thời điểm công cuộc đổi mới đã đạt được những thành tựu lớn.

Bảo vệ tổ quốc từ sớm, từ xa: Việt Nam năng động và hiệu quả tại diễn đàn LHQ

Việt Nam đã đảm đương xuất sắc vai trò ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an nhiệm kỳ 2020-2021 với nhiều sáng kiến, đóng góp thiết thực cho các vấn đề toàn cầu.

Nâng cao sức mạnh chiến đấu của Quân đội từ tác động của Cách mạng Công nghiệp 4.0

Trong tình hình hiện nay, chúng ta cần phải có một chiến lược xây dựng quân đội phù hợp với điều kiện kinh tế của đất nước, tức là phải “từng bước hiện đại” với bước đi và cách làm vững chắc.

“Tổ quốc bên bờ sóng”, “Đất nước nhìn từ biển” góp phần lan tỏa ý thức chủ quyền lãnh thổ

Các cuộc thi ảnh về đề tài biển, đảo quê hương năm 2021 với tên gọi “Tổ quốc bên bờ sóng”, “Đất nước nhìn từ biển” đã góp phần lan tỏa ý thức, trách nhiệm về độc lập, chủ quyền lãnh thổ quốc gia. 

Quảng Trạch: Xây dựng cuộc sống “Tốt đời, đẹp đạo” trong quần chúng tín đồ, chức sắc, nhà tu hành

Tại Quảng Trạch, Quảng Bình, các cơ quan, đơn vị, địa phương tiếp tục đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, xây dựng cuộc sống “Tốt đời, đẹp đạo” trong quần chúng tín đồ, chức sắc, nhà tu hành.

Bài học lớn từ Quốc hội khóa 1

75 năm kể từ sau cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên, khi người dân tự tay cầm lá phiếu bầu ra Quốc hội khóa I của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, đến nay, hoạt động Quốc hội đang ngày càng công khai và dân chủ hơn.

Nắm vững chính sách về tín ngưỡng, tôn giáo để làm tốt công tác tôn giáo

Cần nắm vững chính sách về tín ngưỡng, tôn giáo, đổi mới nhận thức về tín ngưỡng, tôn giáo, có kiến thức nhất định và sự hiểu biết về lịch sử, giáo lý, giáo luật, lễ nghi, phong tục, tập quán của các tôn giáo.

Hơn 10 năm chung tay xây dựng nông thôn mới nâng cao, bền vững

Sau gần 10 năm (2010 – 2019) triển khai Chương trình mục tiêu Quốc gia (MTQG) xây dựng nông thôn mới, diện mạo nông nghiệp, nông thôn Hải Phòng có bước phát triển vượt bậc.

Sau hơn 10 năm chung tay nỗ lực, công tác giảm nghèo đạt nhiều kết quả tích cực

Việt Nam đã chuyển đổi phương pháp tiếp cận đo lường nghèo từ đơn chiều sang đa chiều, với mục tiêu không chỉ bảo đảm thu nhập tối thiểu mà còn hỗ trợ để cải thiện mức độ tiếp cận đối với các dịch vụ xã hội cơ bản.

“Lời thề quyết tử”

Đỉnh cao của ý chí chống giặc ngoại xâm để giành độc lập, tự do, hạnh phúc của dân tộc là “Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”, “Không có gì quý hơn độc lập tự do”

Thực hiện tuyên truyền hiệu quả chính sách dân tộc, tôn giáo

Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm đến các chính sách dân tộc, hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng và ban hành những chủ trương, chính sách nhằm mục đích đoàn kết tôn giáo và hòa hợp dân tộc.

Phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Hơn 90 năm qua, từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta luôn kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp đó. Đại đoàn kết toàn dân tộc là một nhiệm vụ chiến lược của cách mạng Việt Nam.

Can thiệp giảm tử vong trẻ em dưới 5 tuổi: Ưu tiên khu vực miền núi khó khăn, đồng bào DTTS

Chương trình được triển khai trên quy mô toàn quốc, thực hiện theo lộ trình, phù hợp với các Chiến lược, Chính sách đã ban hành... Ưu tiên tập trung khu vực miền núi khó khăn, đồng bào dân tộc thiểu số.